Make your own free website on Tripod.com

Loạt bài kỷ niệm 65 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng (13/10/1939 - 13/10/2004)

 

Nguyễn Triệu Luật: Vũ Trọng Phụng với tôi

Nguyễn Triệu Luật

Hỏi ngh́n xưa xin giọt mực đen
Xoá cho hết chữ Tài chữ Ngộ

                                   Tản Đà

Hôm 14 October mới đây, tiếp điện tín ở Hà Nội gửi vào báo tin Vũ Trọng Phụng mất, tôi thấy ḷng tôi xao xuyến và nước mắt lại tràn ra. Tiếng đầu của tôi thốt ra sau trận xao xuyến ấy là một tiếng tục lưỡi: chó!

Người ta nói “chí thân vô văn” (đối với người rất thân th́ không văn vẻ được nữa) là thế đó. Chó thật! Chó thật là cái số kiếp như số kiếp Vũ Trọng Phụng. Sinh ra để mà nghèo khổ để mà hết sức chiến đấu với những sức mạnh vật chất cay nghiệt ở đời, rồi để mà ốm chết giữa lúc đầu xanh!

Sau khi Vũ Trọng Phụng mồ yên mả đẹp, anh em Tao Đàn lại định theo lối cũ, ra một số đặc biệt để đánh dấu lại trên đàn văn một người thợ xấu số. Lẽ bắt buộc là tôi phải viết một bài không được “vô văn” dù đối với một người “chí thân”. Anh em lại cho tôi là có đủ thẩm quyền để phán đoán một lời về Phụng, v́ cái t́nh thân giữa hai người. Cái t́nh thân ấy quả thật là có, nhưng lời phán đoán th́ tôi lại tự lấy làm không có thẩm quyền chút nào, chính v́ cái t́nh thân ấy. Vũ Trọng Phụng với tôi, ngoài cái quan hệ cùng thuộc đoàn nhà văn với nhau ra, c̣n có những quan hệ khác, gần như những quan hệ thuộc tộc đằng huyết thống. Phụng vẫn coi tôi như một người trưởng thượng mà tôi cũng hằng coi Phụng như người nhà. Tôi có đáng Phụng coi như thế không, cái đó là một chuyện khác, song sự thật là như thế. Quăng ra ngoài làng văn, ngoài xă hội, th́ chúng tôi như đôi bạn, nhưng về nhà th́ chúng tôi đối với nhau như thế. Nhiều khi tôi đă dùng cái t́nh thân mật ấy mà “mắng” Phụng, mỗi khi Phụng v́ những nỗi gay go v́ sinh kế, đâm thiên nộ mà gắt gỏng ở nhà.

T́nh thân đến như thế, th́ liệu có phải “hồi tị” về việc chê khen hay không? Trừ việc chê khen ra, th́ tôi c̣n có thể nói ǵ? Tiểu sử ư? Th́ đă có ông bạn Tam Lang. Văn chương ư? Th́ đă có ông bạn Trương Tửu.

Vậy th́, dưới đây, tôi chỉ ghi lại cái giao t́nh giữa tôi và Vũ Trọng Phụng. Đó chỉ thuộc về t́nh riêng, bạn làng văn có xem th́ xem mà chơi thôi, sau này, có ai muốn làm lịch sử các nhà văn ta hồi tiền bán thế kỷ hai mươi cũng không nên coi làm tài liệu.

Tôi hơn Vũ Trọng Phụng chín tuổi. V́ Phụng có họ ngoại với nhiều người trong họ tôi, nên, chiếu theo vai đối với những người trong họ tôi, Phụng cũng coi tôi như một người vai trên. Bà thân mẫu Phụng, vẫn coi tôi như một người em và đối với tôi vẫn gọi Phụng là cháu. Hồi tôi ngoài hai mươi tuổi, mỗi khi rảnh việc hồ khẩu về chơi nhà, rẽ vào phố Hàng Bạc thăm một người trong họ - người ấy có họ và ở chung với Phụng - tôi vẫn thường để ư hỏi thăm: “Tư học hành vẫn khá chứ? Có hay trốn học mà đi trèo me và bắt chim sâu không?” Có lần Tư hỏi tôi: “Ông Luật ơi, tâm lư học là ǵ?” Bông đùa tôi trả lời: “Tâm lư học là học lư sự cùn, thí dụ như cái môn căi nhau của các ông lư nhà quê hoặc cái học vô lư của ông giáo dạy Tư bây giờ, miệng th́ hét học tṛ lười mà chính ông ấy lại lười hơn ai hết!”.

Năm ấy, Tư - nhũ danh của Vũ Trọng Phụng - độ mười lăm mười sáu ǵ đó, đương học trường “Ke” và cũng bắt đầu đọc lung tung các thứ báo, từ tờ báo “ông cụ” Nam Phong đến các tờ Thực Nghiệp, Trung Bắc...

Thế rồi, tôi th́ mải miết những chuyện trời Nam biển Bắc vu vơ, Tư th́ sau khi đậu tiểu học, đi làm thầy kư Gôđa để đỡ nhà. Tôi cũng không để ư đến lắm nữa.

Đến năm 1929, tôi bị án, phải “hồi dân quản thúc” ở quê nhà. Tư cũng lăm le muốn thay nghề “cạo giấy”, v́ khi đó, Tư cũng đă có dăm ba bài đoản thiên tiểu thuyết tả chân đăng ở các báo Hà Nội. Trong khi tôi ở nhà quê, thỉnh thoảng Phụng - từ đây, tôi phải bỏ cái nhũ danh đi, không dùng nữa - về quên thăm tôi lại đem đọc những bài vừa viết hoặc vừa đăng báo xong cho tôi nghe. Phụng sốt sắng giới thiệu tôi với các nhà báo - v́ từ trước đến giờ, tôi vẫn hững hờ với làng báo, tuy đôi khi tôi cũng viết báo - để t́m cho tôi một sinh lộ.

Tới năm 1933, tôi được đặc ân ra Hà Nội kiếm ăn th́ tôi với Phụng làm ở một nhà báo và ăn ngủ ở nhà Phụng. Từ đó, chúng tôi mới thành thân mật lắm. Ngoài cái Phụng trọng tôi v́ hơn tuổi, v́ có học đôi chút, Phụng lại c̣n yêu tôi và thương tôi ở chỗ nghèo đói mà vẫn vui vẻ. Sự chung đụng ấy có ích cho cả hai bên, Phụng th́ nhờ tôi chỉ dẫn mà thêm kiến thức và biết cách tự học thêm. Tôi th́ nhờ Phụng mà cũng đỡ vụng dại về việc giao thiệp ở đời và nhất ăn mặc gọn gàng và có lễ phép với công chúng hơn. Từ khi ấy, chỗ nào có tôi là có Phụng. Tôi thường đùa gọi Phụng là “trưởng văn pḥng” và người có họ với Phụng và với tôi là “trưởng vơ pḥng”. Người “trưởng vơ pḥng” của tôi, người anh họ Phụng và cháu gọi tôi bằng chú, người ấy - chắc anh em làng văn cũng nhiều người quen biết: ông Trưởng Tạo hàng Bạc.

Từ năm 1933 đến năm 1936, tôi ở luôn Hà Nội và luôn luôn kèm nách hai người trưởng văn và trưởng vơ pḥng đó. Và trong mấy năm ấy, “trưởng văn pḥng” của tôi dậy tiếng ở làng văn trong khi “Trưởng vơ pḥng” của tôi thất bại nghề hàng bạc xoay để trăm vành cũng chưa t́m thấy sinh lộ.

Vũ Trọng Phụng, tuy dậy tiếng ở văn đàn, nhưng vẫn nghèo khổ như thường, nghèo khổ như bất cứ con nhà văn nào. Nhưng cũng có một chỗ để an ủi: một bước lên bực văn hào lỗi lạc. Những cuốn Giông tố, Số đỏ, Kỹ nghệ lấy Tây, Cạm bẫy người, Lục x́, Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô... được khắp ba kỳ hoan nghênh nhiệt liệt. Có một lần, vào khoảng năm 1936, Phụng bảo tôi: “Kể ra, tôi đă có nhiều tác phẩm ra đời mà ông chưa có một tác phẩm nào được in thành sách nhỉ? Ông chỉ có những bài vụn vặt đăng báo tôi. Sau này không biết ra sao, chứ hiện nay, văn nghiệp tôi bỏ xa ông rồi đó!”.

Tôi cười: “Càng hay! Tôi mong được có nhiều người bỏ xa tôi nữa, chứ một Phụng bỏ xa, tôi đă lấy làm mừng đâu.”

Lại có một lần, Phụng bảo tôi: “Thế kỷ này là thế kỷ quảng cáo, ai vô tâm việc ấy là bị loại, dẫu rằng có tài, có học. Công việc tôi làm bây giờ là quảng cái cho cái tên tôi để sau này nhờ cái tên ấy làm một việc ǵ có ích”. Nhắc tới lời này, tôi động tâm vô cùng. Ra Phụng chỉ đủ th́ giờ quảng cáo cho cái tên thôi. Trời chẳng thêm cho vài chục tuổi nữa!

Từ giữa năm 1936 tới nay, v́ việc hồ khẩu, tôi phiêu dạt dần vào Nam, xa cảnh cũ, không khí cũ. Tại một làng hẻo lánh trên bờ sông Mă, tôi trôi dạt về Thanh, rồi theo cuộc “Nam tiến” của dân tộc, tôi lạc lơng vào tới bờ sông Lam. Từ đó, mỗi năm tôi chỉ về thăm quê nhà độ hai lần.

Mới đây, v́ muốn nối lại đôi chút giây liên lạc cũ cùng cố đô, muốn “kiến diện” mặc dầu vẫn “khiếm diện” ở đàn văn ngoài Bắc, tôi lại dính dáng vào làng báo Bắc kỳ, để năng có dịp về Hà Nội.

Mỗi lần tôi về, tôi lại thấy sức khỏe của Phụng đáng ngại thêm.

Hôm về Hà Nội đưa đám tang Tản Đà, thấy Phụng cũng đi theo linh cữu mà người trông đă thấy có vẻ suy. Hỏi về sức khỏe, Phụng nói: “Dạo này đă khá”. Một tháng sau, về Hà diễn thuyết về Tản Đà, tôi đă biết là Phụng mệt nặng, thế mà, khi tan cuộc diễn thuyết, tôi lại thấy Phụng. Tôi hỏi: “Nghe nói mệt nặng lắm, định rằng mai đến chơi thăm, mà lại gặp đây, thế đă khá chưa?”.

- Hút chết đấy, ông ạ. Cố đi nghe ông diễn đó thôi.

Trông người, tôi đă lấy làm lo ngại.

Khi tan cuộc diễn thuyết, tôi cùng mấy người anh em đi đến một nơi nằm nói chuyện, Phụng cũng đi theo. Nửa đường tôi phải bảo: “Tôi van Phụng, Phụng đi về nghỉ đi thôi. Mai tôi đến chơi.”

Quả nhiên vài hôm sau, bệnh lại kịch. Tôi đến chơi, Phụng nói:

- Tôi có viết một cuốn tiểu thuyết nhan đề là Người tù được tha để ở nhà Tân Dân, ông lấy về xem lại, sửa lại hộ cho và đề cho bài tựa. Tôi bị mang tiếng là viết văn khiêu dâm nhiều quá. Tiếng ấy có khi cũng oan, nhưng nó vẫn là một cái thiết án. V́ vậy, tôi muốn viết một cuốn thật đứng đắn, thật khá để tỏ với đời rằng thằng Phụng không toàn nhiên chứa những ác ư như người ta tưởng. Và nếu tôi tả cái xấu xa bẩn thỉu được th́ tôi cũng tả nổi cái cao thượng, cái trong sạch. Ông để tâm cho.

Ở giọng nói ấy, ngay lúc ấy, tôi đă cảm như là lời thiết tha yêu cầu cuối cùng.

Tôi gặp Phụng lần cuối cùng là hôm mồng một tháng Aout. Thấy Phụng suy nhược quá, tôi không nhẫn tâm đi đâu cả, tuy ít khi về Hà Nội, tôi có nhiều việc. Hôm ấy, tôi ở chơi với Phụng từ sáng sớm đến hai ba giờ chiều. Sau khi dùng đồ điểm tâm, Phụng cười và bảo tôi:

- Ta ra đằng giường, nằm nghiêng nói chuyện có lẽ thú hơn.

- Sao lại nằm nghiêng?

Chua chát Phụng đáp:

- Tôi bây giờ là dân thật thụ làng bẹp!

Nằm tiêm thuốc, Phụng rủ rỉ:

- Tôi phải dùng cái này mới sống đến ngày nay đó, ông ạ. Thầy thuốc bảo rằng có hút th́ mới khỏi được. Nghiện thuốc phiện th́ đê tiện thật, nhưng c̣n hơn chết chứ? Tôi, trên c̣n bà, c̣n mẹ, dưới c̣n vợ c̣n con. Bằng ấy người già dại trông vào tôi. Tôi chết th́... tính ra làm sao? Bởi thế, tôi đành hút thuốc phiện...

Thở dài một cái đă cũng chảy mồ hôi, Phụng nói tiếp:

- Thầy số bảo rằng tôi không thọ lắm, nhưng cũng c̣n sống được mười ba năm nữa. Mười ba năm nữa, vị chi bốn mươi mốt tuổi. Mười ba năm nữa, ông ạ... C̣n đủ th́ giờ làm một công tŕnh ǵ khá vĩ đại chứ?... Ông hẹn rằng mười năm nữa ông sẽ làm xong cuốn Tân Văn hóa từ điển... tôi... c̣n kịp xem bộ sách ấy của ông và c̣n có thể xem hết loại tiểu thuyết lịch sử cuối Lê đầu Nguyễn của ông... ít ra tôi cũng phải sống bằng ấy năm nữa chứ?...

Tôi khi ấy như chảy cả người ta, không biết ăn nói ra thế nào nữa. Trông người Phụng, nghe giọng nói của Phụng, tôi rợn người; tưởng như nhắm mắt trông thấy thần chết liệng ở trên không, chỉ chờ đúng ngày tháng mà sà xuống...

Khi ra cửa, Phụng c̣n cầm tay lay:

- Tết, ông ra chơi thế nào cũng đến chơi. Không bao giờ tôi thấy xa ông như ngày nay.

Than ôi! Bây giờ tôi biết nói ǵ nữa!

Nói ǵ nữa, cũng bằng thừa.

Tao Đàn, số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, 1939