Make your own free website on Tripod.com

Loạt bài kỷ niệm 65 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng (13/10/1939 - 13/10/2004)

* Lời Giới Thiệu:

Trong nền văn nghệ Việt Nam trải dài xưa nay, tạm nêu từ giai đoạn khởi từ đầu thế kỷ 20 tới giờ, ngoài nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng đă được giới hữu trách... và công chúng vinh danh tên tuổi, sự nghiệp từ nhiều chục năm qua, hiện có Nhà văn Vũ Trọng Phụng đang được nhà nước vinh danh trở lại. Nói tới Nhà Văn đă có công đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm hiện thực giá trị: Giông Tố, Số Đỏ, Vỡ Đê, Làm Đĩ, Cơm Thầy Cơm Cô, v.v... mà nay giới hữu trách mới cho trả lại Ông Quyền Đứng Đúng Vị Trí Trên Văn Đàn Nước Nhà, th́ hẳn bạn đọc đă hiểu Nhà Văn bị "đời" ngược đăi lâu thật.

Nhằm giúp bạn đọc có thêm tài liệu liên quan tới thân thế, tư tưởng và sự nghiệp của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng mà sưu t́m "cái sự "bỏ quên" rồi lại vinh danh" ông ra sao, chúng tôi trích đăng những bài viết của nhiều nhân vật nổi tiếng xưa nay bàn về Nhà Văn.

Trong khi đăng tải lại những bài này, chúng tôi xin được kính lỗi với các đồng nghiệp Website http://evan.vnexpress.net/

 

Trân trọng

Nước Đức 15.10.2004

TX.Triệu

 

Nguyễn Văn Đạm: Đôi điều kể thêm về Vũ Trọng Phụng

 

 

Nguyễn Văn Đạm

(Lại Nguyên Ân ghi)

Tôi với anh Phụng và anh Vũ Đ́nh Liên cùng học một chỗ với nhau qua khá nhiều lớp, nhiều trường, bắt đầu từ năm 1921, tức là bắt đầu từ lúc học tiếng Pháp. Đầu tiên là trường Hàng Vôi (nay là trường Nguyễn Du), sau là trường Hàng Kèn (chỗ trường Quang Trung bây giờ) cho đến lớp moyen và supérieur là ở trường Sinh Từ. Hết bậc tiểu học, 1926, chúng tôi học tiếp c̣n anh Phụng đi làm...

Luôn thể tôi xin nhắc các anh nghiên cứu: Họ và tên bà cụ thân sinh anh Phụng có chỗ lầm lẫn. Tôi nhớ anh có nói với tôi: H́nh như bà cụ họ Phan, sau giấy tờ làm nhầm, cứ theo thế mà thành Phạm. Tên bà cụ anh Phụng vốn là Khánh, cũng do nhờ người khác viết mỗi khi có việc giấy má, đơn từ, nhầm thành Khách, rồi cũng phải theo như thế măi. Tôi nhớ khi tôi và anh Liên nộp đơn thi vào trường Bưởi, anh Phụng không thi. Sắp hết hạn, tôi giục anh mới nói thật: Cảnh nhà nghèo, anh phải t́m việc làm. Tôi thấy có nhà nghiên cứu viết là anh Phụng có thi vào trường sư phạm - chuyện này tôi biết chắc là không có. Khoảng tháng 9 hay tháng 10 năm 1926, anh vào làm ở nhà hàng Godard (chỗ bách hóa tổng hợp bây giờ), nhưng chỉ được vài tháng lại thôi việc ở đấy. Về chuyện này, có người viết giản đơn là anh bị đuổi, c̣n thêm lư do là anh đem sách báo vào đọc trong giờ làm. Tôi rất muốn anh đính chính cho. Chỗ nhà Godard chúng tôi vẫn hay qua lại, v́ tàu điện trên Thụy Khuê xuống đỗ ngay bờ Hồ đối diện hăng này. Hôm ấy anh là người ra cửa sau cùng, một người Tây đang nói chuyện với anh: “Thế là từ hôm nay ông không trở lại đây nữa?” - “Vâng.” - “Nhưng các ông có nhẹ dạ mà quyết như thế không đấy?” - “Các ông là người thuê làm, chúng tôi là người làm thuê. Hôm nay các ông cho khám túi từng người lúc ra, v́ các ông nghi chúng tôi ăn cắp. Thế th́ các ông khinh chúng tôi quá. Tôi không thể đến đây làm được nữa.” “Ông chắc là sẽ t́m được một chỗ làm mới?” - “Vâng.” - “Tôi mong ông sẽ làm nơi mới được lâu.” - “Tôi cũng sẽ làm đến cái lúc mà người ta làm như hôm nay các ông làm”. Năm ấy anh 16 tuổi, t́m được chỗ làm như ở Godard lương 15đ một tháng là khó. Thế mà anh bỏ. Bỏ chứ không phải bị đuổi việc. Sau đó mới đến chỗ nhà in Viễn Đông (IDEO). Nhưng rồi anh cũng thôi, chuyển hẳn sang viết báo... Tôi sở dĩ nhớ truyện trên là v́ những câu nói, cách nói rất khó quên của anh Phụng. Cả những khi anh dí dỏm nữa. Hồi ấy ở căn nhà ba tầng phố Hàng Bạc, anh Phụng có lập ra tờ báo Công Nông Thương bằng tiền của ông Phạm Chân Hưng (bố đẻ anh Phạm Huy Thông). Trong số mấy người sáng lập báo có Thượng Sĩ. Ông này có nhược điểm là khi nói chuyện cứ hay kể công. Một lần ông bảo Phụng: Tờ báo đă làm đủ việc rồi, chỉ có một việc chưa làm là ghi công tôi! - Phụng bảo: Vâng, tôi biết anh đóng góp nhiều cho tờ báo này, một ngày kia chúng tôi sẽ ghi lại.

- Ghi ở đâu?

- Ghi lại trên mặt nước!

Năm 1933, tôi vào Nam, xuống Cần Thơ dạy học. Anh Liên, anh Phụng vẫn ở ngoài Bắc. Do xa cách nên mới có thư từ với nhau. Tôi cũng có mời anh Phụng vào chơi với chúng tôi. Năm 1935, anh vào đang ở chơi th́ có điện gọi ra, anh ra rồi lại vào. Chúng tôi đưa anh đi thăm đảo Phú Quốc, đảo Ḥn Cau (ở phía tây đảo Phú Quốc, trong Vịnh Xiêm). Chỗ này lại xin các anh đính chính cho một nhận định của ai đó, bảo rằng anh Phụng tả chuyện bắt vích là thuần tưởng tượng, hoặc nhiều lắm là do ông Trần Huy Liệu kể lại. Ở đảo Ḥn Cau, chúng tôi và anh có đi xem bắt vích, không phải những người đi tù bắt vích mà là thường dân, họ làm nghề của họ. Chúng tôi cũng đi Hà Tiên. Anh Phụng có gặp Đông Hồ ở đấy. Những năm ấy Linh Phương Kư của ông và Giọt Lệ Thu của bà Tương Phố đang được ngưỡng mộ. Anh Phụng có vẻ thích. Nhà Đông Hồ hồi ấy nghèo, chúng tôi đến thăm rồi ra nghỉ lại qua đêm ở nhà trọ ngoài thị xă Hà Tiên. Sang năm 1936, anh Phụng c̣n vào với chúng tôi, không nhớ mấy lần, chắc chắn là hơn một lần. Cần Thơ với Sài G̣n tuy xa, nhưng xe cộ hồi đó cũng thuận, nên anh Phụng biết khá kỹ Sài G̣n.

Những dịp anh vào chơi, ngoài chuyện anh đi thăm viếng các nơi, chúng tôi thường cùng anh tṛ chuyện về văn chương, về các vấn đề đời sống. Tôi dạy các môn tự nhiên, thích đọc văn, nhưng không thạo nhận xét kỹ. Vợ tôi khi đó đang làm nghề y nhưng cũng đang tập viết thử, có cộng tác với tờ Phụ nữ tân văn. Mắc trực đêm th́ ban ngày được ở nhà, vợ tôi có nhiều dịp hỏi anh, nghe anh nói về các khía cạnh của văn học và nghề văn. Nhà tôi làm về chuyên khoa phụ sản, đă có lần đưa anh tới thăm bệnh viện và nói với anh khá nhiều về chuyên khoa này; những điều ấy, tôi cho là đă giúp ích cho anh khi viết những trang không dễ viết của các cuốn Làm đĩ, Lục ś. Trong những thư từ trao đổi từ Bắc vào Nam, anh thường nói đến các vấn đề của văn chương, của nghề văn. Ngoài ra anh c̣n rất cần nhờ chúng tôi mua sách giúp. Anh đọc rất nhiều sách tiếng Pháp. Tôi nhớ là đi đâu anh cũng mang theo hai quyển Hán - Việt tự điển của Đào Duy Anh, đến nỗi tôi phải trách anh nhọc sức mang sách vào theo, v́ trong ấy cũng có.

Những ư kiến anh viết hoặc nói trong thư, nhà tôi thường ghi lại trong nhật kư gia đ́nh. Tôi nhớ có những đoạn anh nói về quan niệm hạnh phúc, nhận xét về tôn giáo của người Việt, về phóng sự và tiểu thuyết... Ngay từ hồi ấy, nhà tôi đă ghi lại vào nhật kư gia đ́nh, trong số “những việc cần làm”: Làm rơ hai điểm về anh Phụng: “Về con người - Vũ Trọng Phụng giàu t́nh cảm. Về proseabstraite (văn xuôi trừu tượng) qua các thư từ và (nếu có thể) qua các phóng sự và tiểu thuyết”.

Năm 1940, tôi ra Bắc, nhà tôi và con gái chúng tôi ở lại trong đó rồi sang Pháp. Cuốn sổ ghi chép hồi ấy, rất may là đến nay nhà tôi c̣n giữ được.

... Có một cuộc đối đáp bằng Pháp văn ở ngoài phố của anh Phụng, nó nhiều ấn tượng đến nỗi nhà tôi hôm ấy đă ngồi vào bàn ăn, trước khi cầm đũa, c̣n cố nhớ và ghi ngay, ghi xong đưa anh Phụng đọc lại, rồi mới vào bữa. Chuyện thế này. Hôm ấy là ngày Quốc khánh Pháp. Vợ chồng tôi và anh Phụng đi bộ, đến một ngă tư đường Catinat, Sài G̣n, th́ đường bị chắn, sắp có một cuộc duỵệt binh đi qua. Ba người t́m được chỗ đứng xem rơ. Bỗng có hai người Pháp len vào đứng trước mặt. Anh Phụng phản đối hành vi đó, nhất là đối với một phụ nữ:

- Respectez, Messieurs, le droit dé gens. Nous nous sommes tenus ici bien avant vous, or la terre est au premier occupant (Thưa các ông, xin các ông hăy tôn trọng quyền của mọi người. Chúng tôi đứng đây đă lâu trước các ông, mà mặt đất thuộc quyền sở hữu của người đến đầu tiên).

Một trong hai người Pháp nói:

- Si nous prenons place ici, c’est que la priorité du spectacle qui va s’offrir doit être réservée aux Français. N’est-ce pas là une raison? (Chúng tôi đứng đây là v́ ưu tiên của cảnh (duyệt binh) sắp diễn ra ở đây phải được dành cho người Pháp. Chẳng phải là một lư do đó sao?)

- C’en est une, J’en couviens, et c’est la raison du plus fort (Đó là một lư do, tôi công nhận, và là lư lẽ của kẻ mạnh).

Người Pháp kia đáp:

- Rassurez-vous, la France est le pays des grandes idées démocratiques (Xin ông hăy yên tâm, Pháp là đất nước của những tư tưởng dân chủ vĩ đại).

Anh Phụng bảo ông ta:

- C’est vrai. C’est aussi celui de la civilité et la politesse française qui fait honneur a ceux qui se conduisent suivant ses règles. Je disai avec vous que c’est surtout le pays des grandes idées démocratiques, mais le peuple de France s’attriste d’avoir parfois des enfants qui savent le emêcher de franchir vos frontières (Đúng vậy. Pháp cũng là đất nước của lịch sự, và lễ phép của Pháp mang lại vinh dự cho những ai cư xử theo những qui tắc của nó. Nhất là tôi đồng ư với các ông rằng đó là đất nước của những tư tưởng dân chủ vĩ đại, nhưng dân Pháp phải lấy làm buồn v́ đôi khi đă sinh ra những người con biết ngăn cản không cho các tư tưởng đó vượt qua biên giới của các ông).

Dưới đây tôi chép lại một số phần chính ở những bức thư anh Phụng gửi cho vợ chồng tôi hồi ây, nhân thể làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu và để bạn đọc hiểu thêm về nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Trích thư Vũ Trọng Phụng viết 31/12/1935

... Mùa hạ vừa qua chị có hỏi tôi những ư kiến của tôi về thể phóng sự, tôi vẫn tiếp tục viết tiểu thuyết? Nguyên nhân nào dẫn tôi đến phóng sự ư? Và tôi nhằm những đối tượng nào?

Hôm ấy ta vội đi Hà Tiên rồi mải chơi quên đi nên đến tận hôm nay tôi mới trả lời.

Tiểu thuyết và phóng sự là hai thể văn gần nhau. Phóng sự là một thiên chuyện kể với cơ sở là những điều mà nhà báo đă từng mắt thấy tai nghe, trừ phi là một thiên “phóng sự trong buồng”, nhà báo nghe người ta kể lại cái mà ḿnh chưa biết bằng tai và bằng mắt. Tôi hết sức tránh cái kiểu viết phóng sự như vậy.

Người viết tiểu thuyết “tŕnh bày” các sự việc thu nhận được - có thể từ phóng sự và cho các sự việc tác động vào nhau đến thành một “nút” để rồi đến phần cuối tác phẩm “cởi” cái nút ấy ra sao cho tiểu thuyết là một chỉnh thể, kết quả của công cuộc sáng tạo. Cho đến nay tôi vẫn đi con đường viết tiểu thuyết như vậy. Tôi có tưởng tượng chăng th́ chỉ là trong việc sắp xếp các chi tiết, c̣n các sự việc th́ đều đă diễn ra giữa bạch nhật, dưới thanh thiên. Mỗi cuốn tiểu thuyết, theo tôi quan niệm, là một bản mô tả hay một thiên phóng sự thuật lại những sự việc mà những nhân vật này nọ gây ra hay phải chịu đựng và bao hàm một ư (mà tôi tạm gọi là một đề). Hiện nay tôi đang đọc lại bản thảo một quyển tiểu thuyết mà đề là con người hư hỏng v́ đồng tiền kiếm được đột ngột, nhanh và quá dễ dàng; mặt khác tôi cũng đă đặt dưới tên Cạm bẫy người ḍng sous - titre “phóng sự tiểu thuyết”.

Nguyên nhân nào dẫn tôi đến thể phóng sự? Năm tôi 21 tuổi thể hiện trong tôi một ư nghĩ ngày một rơ nét hơn qua một thời gian dài: con người thường ngại nh́n vào nỗi đau của người khác và luôn luôn muốn gạt bỏ ra khỏi trí nhớ của ḿnh những kỷ niệm buồn, như ở tôi, những h́nh ảnh thời thơ ấu. Tôi đă mang lấy nghiệp văn chương và càng trưởng thành tôi càng cảm thấy trong xă hội nhiều nỗi đau dằn vặt con người trong thể xác và trong tâm hồn. Cái hố ngăn cách người nghèo và người giàu ngày càng rộng và sâu, tà áo lụa của cô tiểu thư vẫn nguyền rủa những làn gió làm cho nó nhiễm bẩn khi thổi cho nó quệt phải cái váy đụp của bà lăo nhà quê, các bàn tiệc vẫn phủ quá kỹ càng thảm cảnh đói nghèo triền miên. Tôi cũng đă được tin nhà diêm Hà Nội dự định tuyển vào làm những trẻ em đang lớn lên, tự ḿnh v́ thiếu ăn thiếu mặc mà xin được giam vào trước những cỗ máy để bản thân ḿnh cũng biến thành những cỗ máy lặp lại mỗi ngày hàng chục ngàn lần một cử động, những kẻ vô tội được nhốt trong đề lao, “những thiên thần trong địa ngục” như người phương Tây thường nói. Ở ngoài Bắc t́nh trạng này c̣n trầm trọng hơn ở trong Nam.

Văn chương chỉ là một món tiêu khiển nếu nó than mây khóc gió. Tôi quan niệm văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút muốn loại khỏi xă hội con người những nỗi bất công, nhen lên trong ḷng người nỗi xót thương đối với kẻ bị chà đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu, kẻ bị đầy đọa và cảnh ngu tối, bị bóc lột, mỗi ngày kiếm ra đủ bữa ăn tối để nhịn ăn sáng hôm sau. Tôi sẽ cố gắng nh́n vào những nỗi đau khổ của xă hội, may ra t́m được những phương thuốc khiến những cái ung đó có thể hàn miệng lên da.

Tôi có ghi được câu sau đây của một nhà hiền triết thời nay: “Cuộc sống của chúng ta có thể ví được với một ngọn lửa. Muốn cháy sáng, cháy to, ngọn lửa phải cháy lan ra. Cuộc sống của con người chỉ thực có ư nghĩa khi ta phá vỡ cái vỏ cá nhân để sống cả v́ người khác. Mỗi khi cầm bút tôi lại tự nhắc nhủ tôi làm theo lời răn dạy cao thượng ấy.”

Tôi đă nhận được của anh chị gửi cho hai tập phóng sự Terre d’ébèneLe chemin de Buenos-Aires của Albert Londres (1), nếu mua được ở Sài G̣n anh chị gửi cho tôi quyển La Traite des Lanches cũng của tác giả ấy. Tôi đă nhận được phóng sự À l’ombre de la Croix gammée (2) của Xavier de Hautecloque, tôi đọc được mươi trang rồi bỏ v́ tôi cũng chẳng muốn biết ǵ về những dự định chiến tranh của Hitler...

Chú thích:

(1) Albert Londres - Nhà báo Pháp có tài, bị chết trên chiếc tàu biển bị đốt cháy ở Hồng Hải trên đường từ Thượng Hải về Pháp. Terre d’ebrène (Xứ gỗ mun). Le Chemin de Buenos - Aires (Đường đi Buenos - Aires), hai phóng sự về buôn bán nô lệ da đen ở Nam Mỹ. La traite des Blanches (Việc buôn bán phụ nữ da trắng), phóng sự về việc bán phụ nữ Âu Châu sang Nam Mỹ làm gái điếm.

(2) À L’ombre de la Croix gammée (Dưới bóng chữ thập ngoặc)

 

Trích thư Vũ Trọng Phụng viết tháng 10/1936

Bạn Đ và bạn Kh rất thân,

Chị Khuê hỏi tôi về hoàn cảnh đă dẫn tôi vào nghề phóng sự. Chưa trả lời được cho mọi cuộc điều tra mà tôi đă tiến hành, tôi hăy gửi anh chị hồi âm riêng cho Cơm thày cơm cô.

Đă một dạo chúng tôi ở tầng gác một căn nhà mà ông giáo Toàn thuê tầng dưới cho gia đ́nh ông, hai vợ chồng, bốn cháu nhỏ lắt nhắt như nhau và một bà cụ hồi ấy hơn sáu mươi.

Bà săn sóc, bế bồng thằng cu Đông, cháu bé nhất, lúc đó mới được mười tháng, không kém ǵ những năm trước, c̣n có sức hơn, bà nuôi nấng hai chị nó và anh nó. Lần nào thấy thằng cu Đông mỗi ngày lại mập mạp hơn, cũng như anh chị nó và anh nó sạch sẽ, nói năng đúng lễ phép hơn... tôi lại có ư nghĩ: các cháu được chăm sóc dạy dỗ như thế thảo nào chẳng khỏe mạnh, sáng dạ, ngoan ngoăn; thật may cho các cháu là c̣n có bà.

Nhưng không. Ông giáo Toàn kể cho tôi tâm sự của ông: “Chúng tôi bao giờ cũng coi bà cụ Mía như mẹ. Trước kia, mẹ đẻ tôi, để rảnh tay đi buôn bán, đă mướn bà và trông nom tôi. Dù trí nhớ của tôi có lùi sâu vào thời kỳ nào trong dĩ văng tôi vẫn thấy h́nh ảnh bà trong buổi thơ ấu và lúc thiếu thời của tôi. Theo lời mẹ tôi kể lại, tôi được biết rằng bà nâng niu tôi trong khi đang chờ đợi lập gia đ́nh để rồi âu yếm những đứa trẻ mà chính bà sinh ra. Tiếc thay, mọi việc gia thất đều không thành, bà buộc phải rẽ một bước ngoặt; bà lấy hạnh phúc của chúng tôi làm niềm vui của bà, bà khóc những nỗi đau khổ của chúng tôi và không cầm được nước mắt khi mẹ tôi nằm xuống, thầy tôi qua đời.”

Từ ngày ấy tôi để tâm nh́n vào cuộc sống của con người đă được số phận chỉ dành cho những thiệt tḥi, thậm chí những đau thương một đôi khi.

Bà c̣n vui vẻ được chút nào có chăng là các cháu c̣n bé, c̣n quấn quưt bà, nhưng rồi lớn lên, t́nh cảm phai nhạt dần, các cháu chỉ coi bà như cái ghế, cái bàn, cần cho chúng nó khi nó ngồi vào đấy làm bài hay ăn cơm, nhưng lại cồng kềnh, chiếm mất chỗ nó đá cầu, đánh bi; có chăng là v́ mỗi năm vài lần, những dịp tết nhất, bà đỡ từ tay ông Toàn, bà Toàn một bộ quần áo mới, chẳng đáng là bao nhiêu, nhưng bà coi là rất quư nên bà gập lại, trân trọng cất đi để lúc bà buông xuôi hai tay người ta mặc cho bà; là v́ bà yên trí được hơi thở cuối cùng ở nơi đây, giữa những người mà suốt cuộc sống cô đơn trong cảnh tứ cố vô thân bà coi là những người ruột thịt.

Bà Mía thuộc loại người mà ta gọi với một giọng khinh miệt bằng cái tên “người ở”. Đó là những trẻ em hoặc những thiếu niên đáng lư phải đi học th́ lại v́ thiếu ăn mà phải phiêu lưu từ thôn quê ra thành thị để hầu hạ kẻ cùng tuổi cho học hành tốt hơn, họa may cơn đói của ḿnh có dịu được. Đó là những thiếu nữ ra đất Hà Thành với ư muốn làm ăn lương thiện nhưng bị những mưu mô xảo quyệt dẫn bước vào những nơi sa ngă khiến họ chỉ c̣n biết nuôi miệng bằng cách bán thân. Đó là những người mẹ mà gia cảnh nheo nhóc thúc giục phải gạt nước mắt trao con mới lọt ḷng cho mẹ già nuôi bằng cơm mớm và mang ra Hà Nội bầu sữa mà mỗi giọt là một giọt vàng để nuôi con những phu nhân muốn giữ cho bộ ngực cao được lâu, cho nhan sắc được bền, dáng đi măi măi kiều diễm.

Bà Mía là một trường hợp đặc biệt. Nếu mọi người đi ở đều được đối xử như bà cụ này th́ những cuộc điều tra mà lúc ấy tôi dự định làm chưa phải là cần. Tiếc thay, mọi ca khác đều trái ngược ca này.

Tôi kêu gọi bằng một thiên phóng sự ḷng nhân ái của các ông chủ bà chủ, để những người hầu hạ kẻ có tiền may ra được đối xử một cách dịu dàng hơn; ḷng thương xót con người ở các hội những nhà từ thiện lập nên để cưu mang những ai (nói rộng hơn, không riêng ǵ người đi ở) phải chịu thiếu thốn đến cả những cái mà khi thiếu sẽ biến chuyển những t́nh cảm của con người thành bản năng của con vật; t́nh nhân ái của những đoàn thể tranh đấu để co hẹp lại một phần nào khoảng cách giữa những kẻ phải chịu rét và những kẻ thừa mặc, giữa kẻ chết đói và kẻ chết no..., tóm lại để từng bước đưa xă hội ta nhích lại mỗi ngày một gần hơn cái thế quân b́nh về tài sản mà ai cũng biết là không bao giờ một xă hội nào đạt tới. Để tranh đấu về mục đích này, tôi mong có nhiều nhà báo cùng làm phóng sự với tôi, về những loại người khác.

Chị Khuê có thể thấy một số chi tiết trong Cơm thầy cơm cô không phù hợp với những dự định trên đây; đó là những duyên cớ mà tôi sẽ tŕnh bầy trong một thứ sau.

Anh chị có sách ǵ gửi ra cho tôi không? Chắc chị Khuê đă nghiền ngẫm xong Solitudes (1) của Edouard Estaunié. Tôi ao ước được đọc Le Disciple (2) của Paul Bourget trong đó tác giả nêu lên trách nhiệm của nhà văn, nhà tư tưởng, trước thế hệ mà ḿnh góp phần đào tạo tâm hồn và hun đúc nên đời sống đạo lư. Một quyển Anthologie (3) trích từ bài tựa Le Disciple câu: “Si un jeune homme est poussé au crime par l’influence d’une doctrine dangereuse ou mal comprise, quelle sera dans son crime la part du maitre dont il a suivi les leçon?”

Thư đă dài rồi, tôi chỉ c̣n cần nhắc quư vị gửi ngay ra Bắc cho tôi tin tức và t́nh bạn.

 

Chú thích:

(1) Solitudes - Những cảnh cô đơn, tập truyện ngắn của nhà văn Pháp Edouard Estaunie (1862-1942)

(2) Le Disciple - Đồ đệ (1889), tiểu thuyết của nhà văn Pháp Paul Bourget (1852-1935)

(3) Anthologie - tuyển tập.

Câu tiếng Pháp trong thư, tạm dịch: “Nếu một thanh niên bị đẩy vào tội lỗi do chịu ảnh hưởng của một học thuyết nguy hiểm hoặc bị hiểu sai, th́ trong tội lỗi đó đâu là phần của ông thầy mà anh ta đă học theo?”

 

Trích thư Vũ Trọng Phụng viết tháng 12/1936

Thân gửi anh chị Đạm.

Tôi muốn trở lại vấn đề hạnh phúc của con người mà khi tôi ở chơi trong Nam, chị Khuê và tôi đă có nhiều lần nêu lên. Tôi suy nghĩ chưa sâu nhưng hôm nay đă có thể tạm gởi anh chị một vài ư.

Các tác giả từ điển chắc chỉ định nghĩa được hạnh phúc một cách chung chung: theo tôi muốn nói được hạnh phúc là ǵ ta phải căn cứ vào hoàn cảnh riêng của từng người. Về phần tôi, tôi được hưởng hạnh phúc trước khi biết cái ǵ làm nên hạnh phúc. Tôi ra đời chưa được bao lâu th́ mất cha, nhưng mẹ tôi đă nuôi nấng và dạy dỗ tôi - như sau này lớn lên tôi c̣n nhớ lại và bà tôi thường kể - với tất cả tấm ḷng mà một người mẹ có thể dành cho con mà không v́ đó để sơ suất một điều ǵ trong việc phụng dưỡng bà tôi. Chia xẻ mọi t́nh cảm tốt đẹp của ḿnh cho bà tôi và tôi, mẹ tôi vẫn giữ được ở bà tôi cũng như trong tôi ḷng thương yêu nguyên vẹn không chia.

Gia sản chúng tôi không có chút ǵ đáng kể, nhưng không những không bao giờ chúng tôi phàn nàn cảnh sống nghèo mà chúng tôi c̣n sống trong hạnh phúc.

Người ta thường lầm tưởng về hạnh phúc và điều thiện, và nhiều khi người ta cho rằng nền tảng của hạnh phúc là vàng, tiền, là các dinh cơ, là ruộng sâu trâu nái, v.v... Tôi cho rằng hạnh phúc và đạo đức nảy sinh chủ yếu từ thiện cảm giữa những con người với nhau, từ những thiện ư của người này đối với người khác. Hạnh phúc và đạo đức trong gia đ́nh và trong xă hội đều xuất phát từ ḷng người; hạnh phúc và đạo đức lên đến mức độ lư tưởng nếu mỗi người thực hiện được những lời kêu gọi mà từ gần hai ngh́n năm nay người ta vẫn nhắc lại nhưng chưa làm được là bao: “ Ta hăy yêu thương lẫn nhau”, “Ta hăy nhân ái như ái kỷ”, “Ta phải lấy cái hay mà đáp lại cái dở, lấy điều thiện mà đối phó với điều ác”. Hạnh phúc và đạo đức (tôi muốn nói đến đạo đức và hạnh phúc thật sự) không xuất phát từ kỹ thuật xây nhà năm chục tầng, làm thịt lợn hàng loạt với tốc độ 16 phút mỗi con, ghi âm nhạc vào đĩa, “âm nhạc đóng hộp”.

... Hạnh phúc, đạo đức thực sự nâng cao được phẩm giá chúng ta, có những cội rễ trong những t́nh cảm cao đẹp của con người; nếu nó không xuất phát từ ḷng người th́ nó không thể có nguồn gốc nào khác.


Lời thêm của người ghi
: Người kể và cung cấp tài liệu trên là cụ Nguyễn Văn Đạm, nhà giáo lăo thành năm nay đă ngoài 80 tuổi, nhiều năm trước lúc hưu trí cụ làm việc ở ban tu thư Bộ giáo dục (cũ). Tuy tuổi cao, cụ vẫn c̣n rất minh mẫn; cụ vừa hoàn thành một cuốn từ điểm tường giải tiếng Việt hơn một ngàn trang. Cụ Đạm cho biết, mặc dù để ư t́m kiếm từ lâu, nhưng chỉ cách đây vài năm cụ mới liên lạc được với bà Vũ Mỵ Hằng là con gái duy nhất của người bạn cũ, để cho biết những tư liệu này.

Tôi được tiếp xúc với cụ Đạm vào tháng 10/1992. Lời kể và hai bức thư của ông Phụng (đề 31/12/1935 và đề tháng 12/1936) mà cụ cho lần ấy, chúng tôi đă đưa đăng tuần báo Văn nghệ ở Hà Nội (số 19, ra ngày 8/5/1993). Tư liệu về cuộc đối đáp giữa ông Phụng với mấy người Pháp gặp trên đường phố Sài G̣n và bức thư đề tháng 10/1936 là do cụ Đạm mới cung cấp gần đây (tháng 8/1993).

Nhân việc in lại các tư liệu này vào sách, chúng tôi xin chân thành cảm ơn cụ Nguyễn Văn Đạm, cụ bà Đồng Thị Bích Khuê và bà Tâm con của hai cụ, là những người đă giữ ǵn và cung cấp các tư liệu này.

Có thể các bạn trong giới nghiên cứu băn khoăn về mức độ xác thực của các tư liệu, nhất là các bức thư... Thiết nghĩ, đây là điều thường gặp trong việc sưu tầm tài liệu, khôi phục những văn bản của các thời đă qua. Để cẩn trọng, xin bạn sử dụng như những tư liệu tồn nghi, giống như nhiều trường hợp tương tự. (L.N.Â)

Vũ Trọng Phụng, con người và tác phẩm, Nxb. Hội Nhà văn 1994, tr.120 - 134
, do Lại Nguyên Ân và Nguyễn Hoàng Khung sưu tầm, biên soạn.