Make your own free website on Tripod.com

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư - Số 29
Tháng 11 năm 2004

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến t́nh h́nh dân chủ Việt Nam. Như đă minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com

Tin Ghi Nhận:

      Ngày 29 tháng 10 năm 2004, Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội đă ra phán quyết 8 năm tù dành cho ông Lương Quốc Dũng với tội danh "hiếp dâm trẻ em". Xin được nhắc lại rằng, khi bị khởi tố, ông Dũng đang giữ ghế phó chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao Quốc gia - một chức vụ ngang cấp Thứ trưởng ở nước ta.
     Được biết, trước khi phiên toà được mở ra khoảng một tháng,trong một buổi họp lănh đạo các cơ quan báo chí, ông Nguyễn Khoa Điềm - uỷ viên Bộ Chính Trị, trưởng ban văn hoá-tư tưởng Trung Ương đă cảnh báo giới báo chí không được khai thác sâu vụ này.
     Trong quá tŕnh điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đă phát hiện ông Dũng đang sở hữu 3 toà nhà ở Hà Nội. Theo nguồn tin từ một viên chức Bộ công an, bước đầu cơ quan điều tra c̣n phát hiện số tiền "bất minh" mà ông Dũng làm chủ, lên tới 150 tỉ đồng.
     Hầu hết những người được hỏi cho rằng bản án 8 năm tù là không thoả đáng. Công luận cũng đ̣i hỏi phải sớm khởi tố ông Lương Quốc Dũng về tội tham nhũng, không được bao che cho bất cứ một cán bộ cao cấp nào.

     
Kể từ ngày được trả tự do, đă hơn 3 tháng, nhà dân chủ Phạm Quế Dương vẫn chưa được nhà nước trả lương hưu. Cơ quan nhà nước nói rằng đây là "thời gian thử thách". Việc làm này đă tiếp tục vi phạm luật pháp Việt Nam, vi phạm quyền con người.
     Được biết, trong suốt thời gian 19 tháng giam cầm, ông đă bị đối xử rất tàn bạo. Khẩu phần thức ăn nhiều tháng liền là rau muống, nhiều tháng liền là rau cải, thỉnh thoảng có một ít thịt mỡ. Nhiều ngày lạnh, ông không được cấp quần áo đủ ấm, mỗi lần đi lên pḥng hỏi cung, ông đều phải chùm chăn theo người.
Qua thời gian ngồi tù, sức khoẻ và trí nhớ của ông Dương đă giảm sút trầm trọng.

----- O -----

     Ban biên tập: Cuộc hành tŕnh đến với tự do là một cuộc hành tŕnh đầy khó khăn, gian khổ. Nhiều khi phải trả giá bằng máu và nước mắt. Có những con người, dường như, được sinh ra là để kiếm t́m tự do. Tự do cho ḿnh, và tự do cho mọi người. Họ luôn đi tiên phong bất chấp mọi sự trừng phạt của giới cầm quyền. Không một thế lực nào có thể cản bước họ.
     Một trong những người như vậy là cố Trung tướng Trần Độ, một nhà dân chủ hàng đầu Việt Nam, đă quen thuộc với tất cả chúng ta.
     Cuộc đời ông giống như một bản giao hưởng lớn. Vừa đậm chất anh hùng ca, vừa phảng phất nét bi ai. Đó cũng là một cuộc "vật lộn" không ngừng, thoát ra ngoài sự trói buộc của ư thức hệ hạn hẹp, thoát ra ngoài sự sợ sệt và những lợi ích cá nhân, để chiến thắng, vươn tới chân-thiện-mỹ của cuộc đời.
     Là một Đảng viên cộng sản, nhưng mọi ư nghĩ của ông đă không xuất phát từ "lập trường giai cấp", "lập trường Đảng" mà xuất phát từ hiện thực xă hội, nơi có tiếng rên rỉ, kêu than của nhân dân đau khổ.
     Tập "Nhật kư rồng rắn" mà chúng tôi giới thiệu sau đây, gần như là sự đúc rút của ông sau nhiều năm quan sát, nghiền ngẫm từ thực trạng đất nước.
     Xuyên suốt tác phẩm là một tấc ḷng v́ nước, v́ dân, và một niềm khát khao mong mỏi cho một Việt Nam dân chủ-phồn vinh.
     Dù tập "Nhật kư rồng rắn" không phải là tác phẩm cuối cùng của ông, nhưng nó thâu tóm hầu như toàn bộ những trăn trở của ông về các vấn đề của đất nước.
     Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với quư độc giả tác phẩm này.
Để tiện cho độc giả trong việc theo dơi, chúng tôi sẽ chia tác phẩm này làm 3 phần, đăng tải trong 3 số liên tiếp.

Nhật kư Rồng Rắn
Trần Độ

Để tặng các bậc lăo thành và các cựu chiến binh hai cuộc kháng chiến, cùng các nhà trí thức và tất cả những ai quan tâm đến tiền đồ đất nước.

     Lời đầu
     Bản viết này để tặng các bậc lăo thành cách mạng, các bậc trí giả và các người có trọng trách lănh đạo hiện nay.
     Đây không phải là các luận văn, và không phải các bài văn chương. Đây là một tấc ḷng “để tặng người đời và cuộc đời”.
     Đây là những ư nghĩ nung nấu trong những tháng cuối năm Rồng và đầu năm Rắn, và cũng là những ư nghĩ nung nấu trước đó hàng chục năm và sẽ c̣n nung nấu tiếp đến cả khi sang thế giới bên kia.
     Đây là nỗi niềm cay đắng của một cuộc cách mạng, và của một kiếp người.
     Đây chỉ là những ư nghĩ được ghi lại trong những ngày cuối năm Th́n và đầu năm Tỵ nên được gọi là nhật kư và nhật kư Rồng Rắn.

I. Hiện nay, cái ǵ là quan trọng nhất ?

14.11.2000

     Thử nghĩ về t́nh h́nh đất nước Việt Nam hiện nay.
     Thử nêu một câu hỏi ?
     Điều ǵ là điều quan trọng nhất cho đất nước hiện nay, điều ǵ là quan trọng cốt tử ?
     Đó là t́m ra con đường phát triển đất nước cho mau chóng để thoát khỏi nghèo khổ, lạc hậu, để bù lại 50 năm gian khổ và 30 năm chiến tranh, gọi tắt là t́m đường phát triển.
     Nay lại có vấn đề quan trọng hơn, quan trọng nhất, là: giải quyết bằng được cái gọi là Chủ nghĩa xă hội, đề cao và giữ vững vai tṛ của Đảng cộng sản ??
     Hăy nh́n lại xem: từ năm 1975 đến 1985, mười năm xây dựng xă hội chủ nghĩa trong cả nước và nước có tên là: “Cộng hoà xă hội chủ nghĩa” th́ đất nước ra thế nào ? Có phải suưt chết đói, suưt rơi xuống vực thẳm rồi không ? Thắng lợi 1975, ta đă thu lại một nửa nước no đủ và đầy hàng hoá, thế mà ta đă phát huy thắng lợi đó ra sao, mà đến những năm đầu của thập kỷ 80, cả nước đói nghèo, ngắc ngoải.
     Đó có phải là một sự thật hiển nhiên không ?
     Đảng cộng sản chân chính th́ coi việc “phát triển đất nước” là quan trọng hơn là cố giữ vững và đề cao vai tṛ của Đảng.
     Mọi tư duy phải xuất phát từ điểm này. Hồ Chí Minh cũng luôn nói về Đảng rằng Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của đất nước và dân tộc. Thế là rất đúng.

17.11.2000

     Nếu chỉ lấy yêu cầu phát triển đất nước là mục tiêu quan trọng nhất để xem xét, th́ thử hỏi:
     Có nhất thiết chỉ có chủ nghĩa Mác- Lênin, chỉ có chủ nghĩa xă hội, mới làm cho đất nước phát triển hay không ? Nếu chỉ cần nêu cao vai tṛ của Đảng, th́ có nghĩa là đất nước phát triển hay không phát triển là không quan trọng.
     Vậy hăy cứ xem quanh ta: Đài Loan, Đại Hàn, Singapore và thêm nữa, Thái Lan và Malaysia, mấy nước này có do chủ nghĩa Mác-Lênin hướng dẫn không ? Những nước ấy có cần có một Đảng cộng sản lănh đạo tuyệt đối theo chủ nghĩa xă hội không ? Thế mà cả 5 nước ấy, khi bắt đầu c̣n nghèo khổ, vậy mà chỉ sau khoảng 20-30 năm họ đă trở thành những nước phát triển rơ ràng, nhân dân đa số có đời sống khá phong lưu.
     Họ không có một Đảng cộng sản “tài t́nh”, “sáng suốt”, mà chỉ có những chính khách, có được chính sách kinh tế xă hội thông minh và có hiệu quả. C̣n Việt Nam, kể từ khi toàn thắng trong cuộc chiến tranh đến nay đă hơn 25 năm và sắp sửa có hoà b́nh 30 năm, dài bằng thời gian chiến tranh rồi, mà vẫn chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Chậm hay nhanh không quan trọng, cứ phải là xă hội chủ nghĩa đă. Thế tại sao hiện nay đất nước lại có những mặt phát triển rơ rệt là nông nghiệp, thương mại. Là v́ nông dân được tự do làm ăn, tiểu thương được tự do buôn bán, là nhờ sau Đại hội VI, hai mặt đó được mở ra. Mới chỉ thế thôi, đất nước đă chuyển ḿnh mạnh mẽ. Nhưng c̣n nhiều người, nhiều cái không được tự do, c̣n nhiều trở ngại. Muốn cho đất nước phát triển nhanh th́ cần phải làm sao cho mọi người dân đều được tự do làm ăn, nông dân, thương nhân, nhà doanh nghiệp (nhà doanh nghiệp sẽ kéo theo công nhân), các nhà khoa học, trí thức văn nghệ sĩ. Tất cả đều phải được tự do.
     Tự do là ch́a khoá của phát triển.
     Tôi nghĩ thế này: nước Việt Nam ta hiện nay, sau bao nhiêu năm đấu tranh và chiến tranh gian khổ, cần phải hoà b́nh phát triển và cần phải phát triển nhanh, để bù lại những thời gian đă mất, và để theo kịp các nước chung quanh. Đó là mục đích và yêu cầu quan trọng nhất của đất nước. Những cái khác là phụ. Do đó, để phát triển đất nước th́ rơ ràng ta phải t́m đường lối nào, học thuyết nào phục vụ được yêu cầu đó.
     Nếu thật sự coi phát triển đất nước là quan trọng nhất th́ Đại đoàn kết dân tộc là quan trọng hơn đấu tranh giai cấp; trí thức quan trọng hơn công nhân và nông dân; phát triển sức sản xuất là quan trọng hơn mọi thứ; để dân làm chủ mọi lĩnh vực quan trọng hơn các tṛ chuyên chính đàn áp; nghe và thu thập được nhiều ư kiến khác nhau và trái ngược nhau kể cả về đường lối chính sách, quan trọng hơn là bắt mọi người phải tuân theo một quan điểm, một ư kiến.

22.11.2000

     Thật ra, không cần phải tranh căi lư luận nhiều. Cứ nh́n một số sự thật hiển nhiên thế này:
     - Cả thế giới, cả cuộc đời cứ vận động và cứ diễn biến, khó có thể dự liệu trước được.
     - Trên thế giới có đến hơn 100 nước không cần chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xă hội, không cần có Đảng cộng sản “tài t́nh” và “sáng suốt” mà cứ phát triển đến tŕnh độ giàu có, văn minh cao. Gần 100 nước khác c̣n đang nghèo đói cực kỳ, nhưng họ cũng không phát triển theo chủ nghĩa xă hội.
     - Bây giờ chỉ c̣n lại có 4 nước theo chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xă hội. Trong đó nước lớn nhất và quan trọng nhất th́ miệng nói chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng họ đưa đất nước tiến lên theo kiểu “có màu sắc Trung Quốc”. Họ phải chơi với Mỹ, xác định vai tṛ kinh tế tự do và vai tṛ kinh tế tư nhân. C̣n Bắc Triều Tiên cũng đang buộc phải mở cửa, phải hoà hợp với Nam Triều Tiên để thoát khỏi cảnh đói nghèo và khó khăn.
     - Nửa đầu thế kỷ, Cách mạng Tháng 10 Nga thành công, rồi Liên Xô ra đời và sau đó, cả một thế giới xă hội chủ nghĩa h́nh thành, có sự phát triển một thời rất mạnh. Nhưng sau 70 năm th́ chủ nghĩa xă hội không phát triển kịp với thế giới, bị sụp đổ và tan ră. Tiếp theo đó, nhiều Đảng cộng sản phải thay đổi tôn chỉ và đường lối. Nhân dân các nước xă hội chủ nghĩa không hề tỏ ra nhớ tiếc.
     - Càng ngày càng rơ ra là chủ nghĩa Mác - Lênin không dự đoán đúng được mọi việc, không giải quyết được tất cả mọi vấn đề mới nảy sinh của cuộc sống.
     - Có người nói cách mạng xă hội chủ nghĩa ở Nga thành công và Liên Xô ra đời là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20. Vậy th́ sự sụp đổ của cái “quan trọng” ấy lại càng “siêu quan trọng”.
     - Ở Việt Nam, từ 1975 đến 1985 ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xă hội trên cả nước. Điều đó đă làm đất nước và nhân dân khốn khổ. May mà năm 1986, Đảng cộng sản phải nghe theo dân và phải đổi mới, nhưng sự đổi mới ấy lại cứ nửa vời, chập chờn, làm cho sự phát triển đất nước cũng cứ chập chờn, cứ nhùng nhằng, do đó đă qua đi 25 năm mà tương lai chưa hứa hẹn ǵ nhiều. Trong khi đó sự tụt hậu cứ càng ngày càng tụt xa, ta không sao theo kịp các nước không xă hội chủ nghĩa. Như vậy “xă hội chủ nghĩa” chỉ là một lư thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực (chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ sau 70 năm tưởng rằng đă thành công).
     Như vậy nó không thể là con đường duy nhất để phát triển đất nước.

Cách mạng và xây dựng, và tiến hoá.

     H́nh như mỗi xă hội, mỗi đất nước trong tiến tŕnh phát triển của ḿnh đều phải trải qua những thời kỳ cách mạng và thời kỳ xây dựng.
     Cách mạng là đập phá, đánh đổ. Nó có ư nghĩa xây dựng ở chỗ nó đập phá và đánh đổ những cái ǵ là lỗi thời cũ kỹ để tạo điều kiện cho những cái mới mẻ, cái tiến bộ ra đời và phát triển.
     Khi xây dựng th́ vẫn tiếp tục phải loại bỏ những cái ǵ lạc hậu, lỗi thời, cũ kỹ, phản động, nhưng xây dựng th́ chủ yếu phải có việc xây đắp và tạo ra những giá trị mới cả tinh thần vật chất làm cho xă hội tiến bộ và phát triển cao hơn.
     Nhưng cho đến ngày nay, với sự phát triển rất cao của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xă hội và nhân văn, th́ h́nh như ỏ tất cả các xă hội nhân dân đều mong muốn đất nước phát triển hoà b́nh và mong muốn tránh bớt những bạo lực, những lật đổ và chiến tranh. Phải chăng lịch sử loài người đă bước sang kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên hoà b́nh và loại trừ bạo lực, loại trừ chiến tranh ? Nhân dân chỉ muốn tiến hoá, chứ không muốn cách mạng bạo lực! Đất nước ta đă trải qua một thời kỳ lịch sử kéo dài gồm những cuộc chiến đấu chống xâm lược giành độc lập, hoà b́nh xây dựng, rồi lại bị xâm lược. Và lại chiến tranh chống xâm lược. Qua quá tŕnh đó mà đất nước ta trưởng thành và phát triển. Cho đến nay, đất nước đă được hoà b́nh độc lập, thống nhất.
     Không biết tương lai loài người sẽ phát triển, tiến bộ thế nào và do đó đất nước ta sẽ gặp những t́nh huống thế nào ? Nhưng chắc chắn là những bước đi sắp tới của ta cũng không có thể lặp lại y nguyên những t́nh h́nh trước đây. Tuy nhiên, trước mắt ta thấy rất rơ là đất nước ta đang ở chỗ đă thực hiện được 3 chữ trong 5 chữ của chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra: đó là một nước Việt Nam hoà b́nh, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
     Ta đă đạt 3 chữ hoà b́nh, độc lập, thống nhất. Ta đang phải thực hiện cho được 2 chữ dân chủ và giàu mạnh.

     Theo cách khác, cũng do Hồ Chí Minh nêu ra 3 chữ:
          1. Độc lập,
          2. Tự do,
          3. Hạnh phúc.
     Ta đă đạt được độc lập và phải tiếp tục thực hiện nốt tự do và hạnh phúc, cũng tức là hai chữ dân chủ và giàu mạnh.

     Hồ Chí Minh đă nói một câu mà bây giờ rất nhiều người biết và nhắc đến: “Độc lập mà không có tự do, hạnh phúc th́ độc lập cũng vô nghĩa”.
     Như thế cũng có nghĩa là phải có dân chủ và giàu mạnh. Nhiều người cho rằng: có xă hội chủ nghĩa th́ tất nhiên có tự do hạnh phúc. Nhưng sự thật lớn của thế giới đă chứng thực là không phải vậy. Chiến tranh lớn và các hoạt động bạo lực, lật đổ càng ngày càng trở nên lạc hậu lỗi thời.
     Để có tự do và hạnh phúc, không nhất thiết phải có bạo lực, không nhất thiết phải đánh đổ ai. Thậm chí ngày nay có những nền độc lập giành được cũng không cần có bạo lực và chiến tranh. Hiện nay nước ta đang bước vào xây dựng, mà xây dựng th́ phải hoà b́nh, mà hoà b́nh xây dựng th́ đất nước cũng hoà b́nh phát triển, tiến hoá ngày càng cao.
     Không nên lạm dụng chữ cách mạng. Ta bây giờ không phải là cách mạng chống ai cả, không phải đánh đổ ai cả. Xây dựng hoà b́nh th́ phải đoàn kết, có ǵ trở ngại th́ hoá giải nó để tiến lên. Ta đă làm chủ đất nước. Vậy th́ ta thực hiện cái nguyên lư mà Đảng cộng sản đă nêu ra và đề cao chất ngất. Đó là phê b́nh và tự phê b́nh. Ta có thể tự phê b́nh dân tộc, tự phê b́nh chính quyền, tự phê b́nh các cơ quan. Tự phê b́nh th́ sẽ tiến bộ và có dân chủ. Tự ca ngợi, lại tự ca ngợi quá nhiều, quá đáng, th́ đó là chỉ dấu báo hiệu sự tàn tạ.
     Không được lạm dụng chữ cách mạng. Ta đang xây dựng th́ chỉ có xây dựng: xây dựng xă hội chủ nghĩa, chứ không phải làm cách mạng xă hội chủ nghĩa, không thể lúc nào cũng phải có chương tŕnh hoạt động cách mạng, lúc nào cũng phải hành động cách mạng.
     Sản xuất không phải là cách mạng. Giáo dục không phải là cách mạng. Đại hội cũng không phải là cách mạng. Hội nghị liên hoan văn nghệ càng không phải là cách mạng. Chống lụt chống băo, cứu trợ từ thiện cũng không phải là cách mạng. Ở rất nhiều nơi, nhiều lúc, không cần đến cách mạng. Nhưng ở tất cả các nơi đều cần có tự do, và lớn nhất là “tự do làm ăn” phải có tự do hưởng lợi ích của kết quả sự làm ăn đó.
     Chính quyền bây giờ không phải là chính quyền cách mạng. Điều đó chỉ có ư nghĩa khi cách mạng vừa mới thành công.
     Ngày nay chính quyền phải là chính quyền xây dựng.
     Chính quyền xây dựng th́ phải có những chủ trương, chính sách làm cho mọi người dân đều được tự do làm ăn. Và từ đó người dân phải có tự do nói, tự do t́m thông tin và trao đổi thông tin. Như thế tự do làm ăn mới thực hiện được. Xây dựng th́ hàng ngày hàng giờ phải tạo ra những giá trị mới, từ nhỏ đến lớn. Nhưng công tác tư tưởng của Đảng th́ lại chỉ quan tâm tới những công việc có ư nghĩa - có ư nghĩa kỷ niệm, có ư nghĩa lịch sử vv…, mà không quan tâm tới những công việc có hiệu quả tạo ra những giá trị mới.
     Nguyện vọng tha thiết và sâu sắc của dân là được quyền sống, được quyền tự do kiếm sống nuôi ḿnh, được quyền tự do lo cho con cái, cháu chắt. Mọi người ai cũng đều mong có nhà, có phương tiện đi lại, có phương tiện học tập giải trí. Muốn thế phải được tự do làm ăn, tự do thu nhập hợp pháp. Đó là điều cốt yếu và là lư tưởng thiết thực, chứ không cần một thứ tinh thần cách mạng để đánh đổ ai, không cần một lư tưởng cách mạng xă hội nào. Chính quyền của nhân dân cần hiểu rơ điều đó. Chỉ có nhân dân được tự do, đất nước mới phát triển được. Làm khác đi chỉ trở ngại cho sự phát triển của đất nước.

     Ở Việt Nam cuộc cách mạng 50 năm đă đập tan được cái ǵ và xây dựng nên cái ǵ ?

3.12.2000

     Quanh đi quẩn lại vẫn phải trả lời cho câu hỏi: nước ta đă từ cái ǵ bước sang cái ǵ và hiện đang là cái ǵ ?

     Rơ ràng là ta đă từ chiến tranh bước sang hoà b́nh, đang từ t́nh trạng cách mạng bước sang t́nh trạng b́nh thường.
     Và cũng có thể nói cách khác là ta đă từ t́nh thế chiến tranh cách mạng bước sang cuộc sống hoà b́nh đời thường.
     Ai cũng phải nhận thấy rằng t́nh thế chiến tranh và cách mạng là t́nh thế không b́nh thường, là t́nh thế bất thường. Và hoà b́nh xây dựng là b́nh thường, là đời thường. Những ai cả đời, hoặc phần lớn cuộc đời, sống trong chiến tranh và cách mạng là những người có cuộc đời phi thường. Nhưng dù như thế những người phi thường đó cũng phải có một cuộc sống đời thường: ăn, ngủ, mặc, ốm đau, học tập, giải trí, nhất là lấy vợ (chồng) đẻ con, nuôi con vv… Chỉ có điều những chi tiết cuộc sống đời thường đó đă phải giải quyết và thực hiện một cách bất thường.
     Bây giờ phải giải quyết và thực hiện cuộc sống đời thường đó một cách b́nh thường.
     Đó là lẽ tự nhiên, và lẽ tự nhiên đó phù hợp với sự tự nhiên của tạo hoá. Ai cứ muốn làm khác lẽ tự nhiên đó th́ trở nên gàn dở và điên cuồng.

     Cuộc sống chiến tranh và cách mạng có những yêu cầu đặc trưng của nó. Những yêu cầu như:
          • Có Đảng lănh đạo tuyệt đối toàn diện
          • Có nguyên tắc tập trung dân chủ. Có yêu cầu kỷ luật sắt, chỉ có chấp hành không bàn căi.
          • Chịu đựng gian khổ, hi sinh.
          • Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng.
     Đó là những yêu cầu cần thiết và hợp lư, mỗi người và toàn thể nhân dân vui ḷng chấp nhận, tự nguyện chấp nhận và thực hành. Và thực sự, cuộc đấu tranh đă nhờ những yêu cầu đó mà có sức mạnh để giành thắng lợi.
     Nhưng khi đất nước đă chuyển sang hoà b́nh xây dựng và cuộc sống đời thường th́ không thể tiếp tục yêu cầu như vậy được nữa.
     Trước đây phải có một Bộ chỉ huy, một bộ máy lănh đạo mạnh mẽ để lănh đạo và chỉ huy chiến tranh và cách mạng. Bộ máy lănh đạo có quyền đề ra những yêu cầu như vậy và mọi người sẵn sàng tự nguyện tuân theo.
     Nhưng không thể cứ kéo dài những yêu cầu đó trong hoà b́nh và xây dựng.
     Nếu cứ tiếp tục cứ yêu cầu như vậy trong hoà b́nh xây dựng th́ đó là phản tiến bộ, phản dân chủ, là phản động.
     Trong điều kiện hoà b́nh xây dựng, tức là trong đời thường cần có một bộ máy quản lí xă hội phù hợp với cuộc sống đời thường.

     Tôi được đọc ư kiến của một số nhà nghiên cứu nêu lên một cách có lư luận là một xă hội đời thường như vậy cần có 4 thứ: (coi như 4 bánh xe của một cỗ xe)
          1. Một xă hội công dân.
          2. Một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh chứ không định hướng ǵ lôi thôi.
          3. Một nhà nước pháp quyền.
          4. Một nền dân chủ đầy đủ.

     Như vậy là một xă hội đời thường phải có: xă hội công dân, thị trường, pháp quyền và dân chủ.
     Bộ máy quản lư xă hội ấy là một bộ máy dân chủ. Nói dân chủ th́ cứ phải dân chủ đă, không phải chưa nói dân chủ đă đề pḥng “dân chủ quá trớn”, đề pḥng “lợi dụng dân chủ”. Khi dân có dân chủ th́ dân phải “dùng” cái quyền dân chủ đó, “dùng” không phải là “lợi dụng”. Mà dân chủ nào cũng là dân chủ có quy chế, có quy tắc. Ai làm sai những quy chế, quy tắc đó th́ phải phạt. Người đứng đầu như Chủ tịch, Thủ tướng, Chánh án, Giám đốc mà làm sai quy chế dân chủ th́ cũng phải phế truất, không thể có chuyện đổ cho người ta tội “dân chủ quá trớn” và “lợi dụng dân chủ”. Và tại sao lại chỉ đề pḥng “lợi dụng dân chủ” mà không đề pḥng “lợi dụng không dân chủ” ? Bộ máy quản lư xă hội dân chủ là một bộ máy phải được xây dựng nên một cách dân chủ, nó có đủ quyền hạn mà nó được phân công, nhưng quan trọng nhất là nó phải được giám sát, tức là phải được nhân dân giám sát và các cơ quan trong bộ máy ấy giám sát lẫn nhau. Muốn thế phải thực hiện tự do ngôn luận và tự do bầu cử.
     Ở ta, những điều đó đă được ghi trong Hiến pháp. Phải rà soát lại, phải thay đổi tất cả các bộ luật và các điều luật để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp.
     Nhưng rơ ràng có nhiều hiện tượng người dốt người kém lại cai trị, điều khiển người có tri thức; người không biết chuyên môn lại có quyền sai bảo dạy dỗ người có chuyên môn; người có tŕnh độ rất thấp lại đi dạy dỗ chỉ đạo khắp nơi khắp chốn. Những hiện tượng đó là có thật, có thật rơ ràng, ai ai cũng thấy, ai ai cũng biết.
     Quả là vào thập kỷ 80 th́ cả nước mong ước thoát khỏi khủng hoảng toàn diện. Quả là đất nước lúc ấy ở vào t́nh trạnh “suưt chết”. Đó là chưa kể sau khi thắng lợi, hàng trăm ngh́n người đă bỏ nước ra đi. Thế là h́nh thành nhiều trung tâm người Việt ở thế giới gần 2 triệu người.
     Vậy là tại sao ? T́nh trạng đó có phải do kẻ địch nào tạo ra, có kẻ địch nào bịa ra để nói xấu ta ?
     Không !!.
     Tất cả những ai đến nay ở tuổi 40-50 đều chứng kiến, cả “thắng lợi” lẫn “suưt chết” !!!
     Vậy là do đâu ?

     Quả thật là 50-70 năm vừa qua, đất nước ta đă trải qua nhiều biến động long trời lở đất, đă biến chuyển vĩ đại từ một đất nước nô lệ không tên tuổi trên thế giới, cực kỳ đói nghèo, dốt nát và lạc hậu, đầy nhục nhă, đầy dối trá, lừa đảo, đầy tệ nạn và oan khuất, trở thành một đất nước tên tuổi lừng lẫy, sự đói nghèo đó giảm bớt, sự dốt nát bị tiêu diệt.
     Suốt quá tŕnh đó, đều có vai tṛ nổi bật của Đảng cộng sản Việt Nam, có lúc tên là Đảng Lao động Việt Nam.
     Nhưng tất cả những thắng lợi và tiến bộ ấy không thể quy hết vào công của Đảng cộng sản được, tuy rằng Đảng cộng sản có công lớn. Cũng không thể quy hết công vào chủ nghĩa Mác được.
     V́ 50 năm và 70 năm ấy, nhiều nước ở quanh ta cũng có những biến chuyển lớn, lớn hơn cả nước ta. Họ đă từ nghèo nàn lạc hậu trở thành những nước giàu có và văn minh, c̣n nước ta vẫn c̣n ở trạng thái tụt hậu, đang phải cố gắng đuổi theo, mà sự đuổi theo ấy c̣n đang đuối sức.
     Những nước ấy không hề nhờ vào chủ nghĩa Mác và Đảng cộng sản. Đó là một sự thực hiển nhiên, bất cứ ai dù có nhắm mắt cố t́nh cũng không thể không nh́n thấy.

     Hiện nay những người khoảng trên 70 tuổi, tức những người được sinh ra trước năm 1930, cũng tức là những người đă được sống trong xă hội trước Cách mạng Tháng 8, thường có sự so sánh mặt nọ mặt kia của xă hội ngày nay với xă hội ngày xưa.
     Khi so sánh như thế, ai nấy cũng đều thấy xă hội ta, đất nước ta ngày nay được độc lập, đă “sạch bóng quân xâm lược”. Thật là rơ ràng, hiển nhiên ngày nay dân ta có đời sống khá hơn nhiều so với trước đây. Trước đây là đường phố đầy người chết đói và ăn mày, ngày nay một người dân trung b́nh cũng mơ ước và có khả năng thực hiện một ngôi nhà cho ḿnh, cho con, một xe máy, một bộ ti vi, tủ lạnh, bếp ga, nhất là đối với người ở thành phố và đô thị. Như thế so với thời chết đói và ăn mày th́ đă là một trời một vực. Cái chuyện thời nay khác thời trước cách đây 50- 70 năm là một sự thường v́ nhiều nước được như thế và c̣n hơn thế nữa. Không thể nói là nhờ vào chủ nghĩa Mác và Đảng cộng sản được.

     Nhưng c̣n xă hội ngày nay đă tốt đẹp chưa ? đă tự do, dân chủ chưa ? th́ không ai thấy được. Nhưng ai cũng thấy rằng:

1.     Xă hội hiện nay có một bộ máy quản lư to lớn kềnh càng quá, nhất là ở xă phường và huyện tỉnh. Bộ máy lại có nhiều Quan quá. Có một thời chữ Quan mất đi rồi, thay vào đó là chữ “Cán bộ”, “Đồng chí”. Nhưng ngày nay chữ “Đồng chí” chỉ c̣n trên giấy, c̣n thường ngày dân vẫn nói “các Quan” và “Quan càng to, càng nhiều bổng lộc”. Ngôn ngữ ấy trở lại như ngày xưa, trong xă hội rất nhiều người cũng cố gắng “phấn đấu” để được làm Quan. Vợ kiêu hănh v́ có chồng là Quan, con hănh diện v́ có bố, mẹ là Quan. Điểm này, xă hội ngày nay giống trước và trắng trợn, tệ hại hơn trước.

2.     Càng Quan to th́ lễ lạt, biếu xén càng to và bổng lộc càng nhiều.

3.     Nhiều Quan to có mức độ sống không kém ǵ các quan ở những nước giàu có (nhà cửa, xe cộ, quần áo, ăn uống).

4.     Trong bộ máy, có nhiều người khiến nhân dân phải sợ, phải kiêng nể, có nhiều bộ máy to nhỏ đáng sợ. Dân phải sợ công an, sợ cán bộ Đảng, v́ cán bộ Đảng giống công an quá, cũng hay ḍ la, xem xét, hay doạ nạt. Công an ngày càng nhiều và ngày càng có nhiều nét của một h́nh ảnh khủng bố, là h́nh ảnh doạ trẻ con được “Ấy chết, chú Công an kia ḱa!”.

5.     Các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng khá đông đảo, nhưng không bênh vực được nhân dân chút nào. Nhân dân vẫn phải khiếu kiện nhiều, khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện đông người (tức là biểu t́nh), vừa gửi đơn, vừa muốn trực tiếp đưa đơn, có rất nhiều trường hợp oan trái và oan khuất từ đời cha, đời ông đến đời con, đời cháu.

     Những điều đó, báo chí lẻ tẻ đều có nói đến, nhưng c̣n rất ít. Phải nghe nhân dân nói với nhau ở hè phố, góc chợ và khắp nơi mới thấy rơ được bức tranh xă hội thật.
     Vậy một xă hội mà ta mơ ước, ta lư tưởng hoá, lại tồn tại trong hiện thực như vậy, th́ có thể coi là ta đă xây dựng được một xă hội tốt đẹp hay chưa ?

     Ta đă từng mơ ước, và từng lư tưởng hoá, ta đă từng chỉ ra là xă hội tương lai sẽ không có thất nghiệp, không có cờ bạc, không có gái đĩ, không trộm cắp vv... Nhưng xă hội ta ngày nay như thế nào? Vẫn có đầy đủ các tệ nạn của một xă hội cũ mà ta đă từng nguyền rủa và đă từng đập tan. Trước đây ta cho rằng chỉ có xă hội tư bản mới xấu xa như thế. C̣n xă hội xă hội chủ nghĩa th́ một trăm phần trăm tốt đẹp, một trăm phần trăm ngược lại với xă hội tư bản.
     Thực ra, chủ nghĩa Mác rất nhân đạo, rất nhiều ḷng tốt, nó chỉ ra cho loài người một tương lai sáng lạn: sẽ không có tư hữu, do đó không có bóc lột, thế là cuộc sống xă hội hoàn toàn công bằng và dân chủ.
     Nhưng thực tiễn cuộc sống chỉ ra rằng nó không thể đơn giản như vậy. H́nh ảnh ấy chỉ là một cái bánh vẽ khổng lồ. Thực tiễn cuộc sống khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều. Loài người cứ phải t́m kiếm và t́m kiếm, tạo ra cho ḿnh những kinh nghiệm và những giá trị tốt đẹp. Xă hội tư bản có những cái xấu, nhưng trong xă hội đó, nhân dân cũng tạo ra những giá trị tốt đẹp cho ḿnh, miễn là nhân dân được tự do. Cái điều mà chủ nghĩa Mác, cộng sản hay xă hội chủ nghĩa tưởng rằng có nhờ nó sẽ có một bộ máy nhà nước bảo đảm được mọi mặt nhu cầu đời sống của mọi người, chỉ là một ảo tưởng hăo huyền.
     Thế mà Đảng lại cứ bắt mọi người phải tin theo vào cái ảo tưởng hăo huyền đó. Như thế là phạm vào một tội ác lớn với nhân dân.
     Đảng cộng sản Việt Nam cứ gân cổ gào lên cái định hướng xă hội chủ nghĩa theo kiểu như vậy, thật ra là một sự mù quáng, một sự điên cuồng.
     Nhân dân cần được tự ḿnh làm chủ cuộc đời của ḿnh, nghĩa là phải được tự do sống, tự do làm ăn, rồi mọi việc của cuộc sống sẽ được giải quyết dần, không cần một lư thuyết, một chủ nghĩa nào cả.
     Nói đúng hơn là nhân dân cần đến tất cả các học thuyết, các chủ nghĩa, rồi nhân dân sẽ chọn lọc, cân nhắc, so sánh chúng với nhau để t́m ra cái nào có lợi cho đường đi của ḿnh.
     Đảng nào sáng suốt và tài t́nh là đảng tạo ra được những tự do như vậy cho nhân dân. Chứ c̣n đảng nào mà cứ bắt nhân dân phải nghe theo và sống theo các nghị quyết của ḿnh th́ đảng ấy chỉ là duy ư chí một cách dốt nát và tàn bạo.
     Đảng ấy quyết không thể tồn tại.

7.12.2000

     Tiếp tục câu hỏi lớn: cuộc cách mạng Việt Nam đă đem lại được cái ǵ cho nhân dân Việt Nam ?

     Cứ xem xă hội Việt Nam hiện nay, cuộc sống Việt Nam hiện nay, th́ có thể thấy một nét lớn rất đau ḷng là: tất cả những ǵ xấu xa, tàn bạo, mà cách mạng đă có lúc xoá bỏ và đập tan th́ nay đang được khôi phục lại hoàn toàn, mà khôi phục lại c̣n mạnh hơn, cao hơn, nhân danh cách mạng.
     Bộ máy quản lư xă hội thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính.
     Đó là chuyên chính tư tưởng, sự chuyên chính tư tưởng được thực hiện bởi một đội ngũ ṇng cốt là những “lưu manh tư tưởng”. Chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói … Những điều luật quy vào các tội: có hại cho lợi ích cách mạng, không lợi cho sự nghiệp cách mạng, nói xấu chế độ, nói xấu lănh đạo vv… để đàn áp tàn khốc mọi tiếng nói.
     Nền chuyên chính tư tưởng này đang làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ ǵ, hoặc ít nhất cũng không muốn suy nghĩ ǵ, nói năng ǵ. Thực ra, nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lư bảo thủ, giáo điều. Nó làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng, nó làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch.
     Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lư lệ thuộc, lệ thuộc vào nhà nước, lệ thuộc vào Đảng, lệ thuộc vào cán bộ, và một tâm lư phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục một cái ǵ bí và hiểm.
     Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thuỷ Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài.
     Nó tàn phá cả một dân tộc, huỷ hoại tinh anh của nhiều thế hệ.
     Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. V́ không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống cuả con người mà nó huỷ hoại cuộc sống rất nhiều người, đó là cuộc sống tinh thần, cuộc sống tư tưởng của cả dân tộc.
     Nó đang làm hại cả một ṇi giống.

9.12.2000

     Vẫn có một câu hỏi lớn mà không biết có t́m được câu trả lời thoả đáng hay không ? Câu hỏi đó là:
     Nhân dân Việt Nam, sau 70 năm đấu tranh gian khổ và 30 năm chiến tranh ác liệt với những hi sinh rất lớn lao và sâu sắc đă mang lại cho ḿnh, cho đất nước một chế độ xă hội và một chính quyền thế nào ? một xă hội kiểu ǵ ?

     Ta biết chắc là có những câu trả lời ngon lành như sau:
     “Ta đang có một chế độ xă hội chủ nghĩa tốt đẹp và có một xă hội xă hội chủ nghĩa cũng rất tốt đẹp. V́ nhà nước của ta ngày nay tên là nước cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng cộng sản lănh đạo. Bản chất của chế độ ta là công bằng dân chủ, nhân dân rất hạnh phúc.”

     Đó là câu trả lời chính thống.
     Ai nói khác đi là chống lại chủ nghĩa xă hội, chống lại Đảng cộng sản. Nhưng người dân thường và nhất là nhiều bậc lăo thành, nhiều nhà trí thức và cả nhiều thanh niên nữa, đều thấy là không phải thế. Những người này thường lấy sự thực thường ngày ra đối chiếu, rồi thấy rằng chữ xă hội chủ nghĩa thật là vô duyên và vô nghĩa. V́ vậy đă có rất nhiều ư kiến cho rằng nên trở lại với tên nước mà Hồ Chí Minh đă đặt: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

II. Chế độ xă hội chủ nghĩa và chính quyền hiện nay là thế nào và là cái ǵ ?

Hăy nh́n vào sự thật rơ ràng và những đặc điểm đang có mà xem xét.

12.12.2000

     Phải thấy một cách rơ ràng là sau Cách mạng Tháng 8. 1945 ở Việt Nam đă có một chính quyền cách mạng, tên là Việt Nam dân chủ cộng hoà, với 3 tiêu ngữ: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, thuận theo tôn chỉ của chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc.
     Chính quyền mới xuất hiện với những bộ máy, cung cách làm việc và những con người trái hẳn với chính quyền thực dân phong kiến trước kia. Nhân dân nô nức đi bầu ra Quốc hội, được thấy những đại biểu gần gũi và quen biết của ḿnh. Đặc biệt nhất là hàng ngày thấy và nghe một vị Chủ tịch nước rất b́nh dân, giản dị, nói năng dễ hiểu và thân gần với tất cả các tầng lớp dân từ nông thôn đến thành thị, miền ngược đến miền xuôi, từ trẻ nhỏ đến cụ già. Mọi người sống trong không khí hữu ái, bạn bè, b́nh đẳng, không c̣n ai phải sợ ai. Một không khí dân chủ mới mẻ bao trùm cả xă hội.
     Chính quyền ấy phải lănh đạo và bảo đảm sự lănh đạo toàn dân đi vào cuộc chiến tranh.
     Cuộc chiến càng diễn ra rộng khắp và ác liệt th́ nhiều yêu cầu khắt khe càng được đặt ra. Yêu cầu phổ biến nhất là mọi người, mọi nơi, phải tuyệt đối phục tùng kế hoạch chung thống nhất, mọi cấp phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi nhiệm vụ lớn nhỏ của ḿnh.
     Thế là một t́nh trạng phổ biến là phải tập trung cao độ, phải kỷ luật chặt chẽ. Trong thời gian này Đảng cộng sản nhấn mạnh sự lănh đạo dân tộc của ḿnh và đ̣i hỏi có sự lănh đạo toàn diện và tuyệt đối. Đó là điều cần thiết và mọi người đều tự nguyện chấp nhận và chấp hành.
     Đảng giành quyền lănh đạo lúc này là giành quyền chịu gian khổ, chịu thiếu thốn khó khăn, giành quyền hy sinh trước hết. V́ vậy giành quyền lănh đạo cũng tức là giành lấy sự vẻ vang hy sinh v́ nước.
     Do đó, cả một thời gian chiến tranh dài dằng dặc, không ai có ư kiến ǵ khác và vai tṛ Đảng cộng sản ngày càng vững chắc, được công nhận đầy đủ và sâu xa.
     Trong đời sống xă hội, ít có những yêu cầu dân chủ, tự do, độc lập cá nhân. Nếu có xuất hiện ở bộ phận nào, cá nhân nào đó th́ lập tức yêu cầu của chiến tranh cũng làm cho bộ phận ấy, cá nhân ấy phải tự nguyện từ bỏ yêu cầu ấy đi.

14.12.2000

     Thế nhưng, sau năm 1975, trên một đất nước thống nhất hoàn thành, một chế độ chính trị xă hội nghiễm nhiên buộc tất cả mọi người phải công nhận nó. Thực ra, một nửa nước, tức là miền Bắc, đă công nhận nó từ lâu, c̣n một nửa miền Nam th́ phải miễn cưỡng công nhận. Hàng trăm ngàn người không công nhận chế độ chính trị xă hội và cả đời sống nghèo khổ đă bỏ đất nước ra đi. Đó là một hiện tượng xă hội cần được xem xét khách quan, không thể quy hết vào âm mưu phá hoại của địch và là hành động của những phần tử phản động.
     Cái chế độ chính trị xă hội được h́nh thành ấy là một chế độ Độc Đảng và Toàn Trị.
     V́ Đảng cộng sản công khai tuyên bố là Đảng lănh đạo toàn diện và tuyệt đối, Đảng huy động bộ máy chính quyền quét sạch các thứ Đảng khác như Việt Quốc, Việt Cách, hạn chế các hoạt động tôn giáo, vận động (và thực chất là ép buộc) hai Đảng đồng minh trong Mặt trận tổ quốc phải tự giải thể và rút lui với lư do “đă hoàn thành sứ mệnh”, đó là Đảng dân chủ và Đảng xă hội. Trong khi đó th́ thực ra Đảng cộng sản cũng đă hoàn thành sứ mệnh độc lập, thống nhất, và hoàn thành một cách vẻ vang.
     C̣n sứ mệnh dân chủ giàu mạnh th́ thật ra một ḿnh Đảng cộng sản không thể làm nổi. Đă độc Đảng th́ tất yếu phải kéo theo nhiều thứ “độc” khác: độc tài, độc đoán, độc quyền. Thế mà lại c̣n đ̣i lănh đạo toàn diện và tuyệt đối, rồi lại c̣n thực hành chuyên chính của một giai cấp.
     Rơ ràng một chế độ như vậy mang theo đầy đủ tính chất của một chế độ không dân chủ và phải nói là phản dân chủ. Chế độ ấy rất có họ hàng với chế độ phát xít mà nhiều nhà trí thức thế giới đă nói.

     Có điều rất hài hước là chế độ đó lại luôn cao giọng nói những lời hoa mỹ:
          - V́ nhân dân phục vụ
          - V́ dân, do dân, của dân
          - Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
           (Thực ra chỉ có Dân làm c̣n th́ dân không được biết, không được bàn …)
          - Dân là gốc
          - Đại đoàn kết, đoàn kết toàn dân

     Thế mà có ư kiến nào nói đến chuyện này th́ lập tức bị kết tội là nói xấu chế độ và bị thực hiện “chuyên chính” ngay.
     Một xă hội có nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau, mà đ̣i thực hiện chuyên chính của một giai cấp trên các giai cấp khác, tức là trên toàn dân (và giai cấp ấy gồm những người như thế nào mới được chứ ?).
     Thật rơ ràng là đă có một bộ phận người nắm quyền lực thực hành chuyên chính với toàn xă hội.
     Nếu chỉ căn cứ trên ngôn ngữ, mọi người đă thấy bản chất của chế độ là thế nào? Có các nhà lư luận “lư luận” rằng: những hiện tượng mất dân chủ là “hiện tượng”, c̣n “bản chất” chế độ là tốt đẹp vô cùng, dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản. Trong khi ấy mọi người chỉ cần được dân chủ bằng một nửa dân chủ tư sản thôi, thực ra mọi người muốn được thực hiện một nửa những điều đă công bố ở nhiều văn kiện: Hiến pháp, phê b́nh và tự phê b́nh, chỉnh đốn Đảng. Cái lư luận “bản chất - hiện tượng” thực ra đang chửi lại và vạch trần những lời nói láo.

     V́ thế, đặc điểm bao trùm của chế độ chính trị xă hội này là:

     a) Nói một đàng, làm một nẻo.
     Nói th́ “dân chủ, v́ dân” mà làm th́ chuyên chính phát xít. Cái đặc điểm đó cũng có nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, tṛ hề “nói vậy mà không phải vậy”.
     Suốt ngày đóng tṛ, cả năm đóng tṛ, ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các tṛ lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừa.
     Chế độ này bắt mọi người phải đóng tṛ, bắt tất cả trẻ con phải đóng tṛ, bắt nhiều người già phải đóng tṛ.
     Đặc điểm này đă góp phần quyết định vào việc tạo ra và h́nh thành một xă hội dối lừa: lănh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp giả dối, đến gia đ́nh cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hô lừa dối, hứa hẹn lừa dối. Ôi, cay đắng thay!

     b) Đặc điểm thứ hai là quá lợi dụng quá khứ thắng lợi.
     Quả thật nhân dân ta có một lịch sử đấu tranh hết sức quyết liệt và đă thắng lợi vẻ vang. Trong đó Đảng cộng sản có vai tṛ quan trọng và Đảng cộng sản đă tự nói về điều đó một cách quá đầy đủ rồi. Thế mà đến nay đă gần 30 năm hoặc đă gần 80 năm vẫn c̣n ngày đêm phất cờ đánh trống, ngày đêm ḥ hét tự biểu dương, và cũng ngày đêm vơ vét các thành tựu nhân dân làm ra dồn vào cái túi “thắng lợi vẻ vang” và cái túi “sáng suốt, tài t́nh”. Lúc nào cũng bắt nhân dân phải tung hô, phải chào mừng, phải ca ngợi.

          - Chào mùa xuân cũng phải mừng Đảng, mừng Xuân
          - Kỷ niệm nông dân, phụ nữ, thanh niên cũng phải biểu dương thành tích Đảng, Đảng là nguyên nhân thắng lợi.
          - Nhân tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tổ tiên và vui chơi cũng phải tưởng nhớ công lao Đảng và chào mừng Đảng.
          - Đám cưới, đám ma cũng phải tưởng nhớ và chào mừng Đảng.

     Một câu ca dao rất tuyệt vời của nhân dân nói lên bản chất của t́nh h́nh và nói lên chân lư thời đại:
          Mất mùa th́ tại thiên tai,
          Được mùa là bởi thiên tài Đảng ta!

     Nhắc đi nhắc lại măi “chân lư” này càng làm nó sáng rơ. Thực ra, mỗi người cộng sản có lương tâm phải biết xấu hổ về cái “chân lư” ấy.
     Có người đă nói rằng: Đảng đă ăn cái “xái” (xái thuốc phiện) của thắng lợi quá nhiều lần. Người ta ăn xái thuốc phiện th́ ăn đến xái ba, xái bốn là hết, c̣n xái thắng lợi th́ Đảng ta ăn đến xái 100 rồi mà c̣n chưa chán.

     c) Đặc điểm thứ ba là bộ máy lănh đạo và quản lư xă hội này (cả Đảng và nhà nước) càng ngày càng đuối, càng bộc lộ tŕnh độ kém cỏi của ḿnh trước “nhiệm vụ dân chủ” giàu mạnh của đất nước.
     Tất cả những nhu cầu, những thiết yếu hàng ngày của một người dân muốn nhờ vào bộ máy lănh đạo và quản lư gỡ rối cho, giải quyết cho th́ đều gặp:

- Giải quyết sai làm cho đời sống dân khó thêm, rắc rối thêm
- Giải quyết chồng chéo, không biết giải quyết thế nào, cứ bộ phận nọ bắn sang bộ phận kia, kéo dài vô tận.
- Không giải quyết được.
- Đ̣i hỏi dân phải tốn kém nhiều mới chịu giải quyết.

     V́ thế mới nhiều khiếu kiện, nhiều oan khuất, nhiều điểm nóng …
     Cũng do đặc điểm độc tài, độc đoán, cho nên mỗi người dân không được độc lập bộc lộ tài năng của ḿnh (tuy rằng tài năng đó không hiếm). Việc chọn lựa những người có trách nhiệm cứ theo lối phe phái, theo lối ăn cánh, theo lối nịnh bợ, cơ hội, theo lối “bầu cử có lănh đạo”, (Đảng cử dân bầu) th́ các tài năng cứ bị vùi dập, bị thui chột, và đó là tai hoạ cho toàn dân tộc.
     Trong thực tế, đây là một trong những tội ác lớn nhất của Đảng đối với đất nước, dân tộc.

21.12.2000

     d) Đặc điểm thứ tư là đặc điểm lớn nhất, tai ác nhất, dă man nhất. Đó là độc quyền tư tưởng, độc quyền ư thức hệ.
     Đặc điểm này của chính quyền là trước mắt tạo ra một xă hội tẻ nhạt, khô cứng, nó vùi dập khoa học và văn nghệ, ép buộc thiếu nhi và thanh niên, làm cho không một giá trị tinh thần nào được xuất hiện và phát triển, về lâu dài nó làm cùn ṃn cả nhiều thế hệ và do đó cùn ṃn cả một dân tộc, một giống ṇi. Nhưng những tai ác của đặc điểm này không duy tŕ được lâu. Đă có nhiều người trong thế hệ thanh niên và trung niên được tiếp xúc với nhiều thông tin thế giới bắt đầu nhận rơ t́nh h́nh và đang t́m cách rũ bỏ cái ách này. Chính quyền chỉ có một tiền đồ là bị phản đối và sẽ tan ră. Ta đă tha thiết mong mỏi biết bao nhiêu; chính quyền này đừng phản lại lịch sử nữa, hăy thích ứng với thời đại và tự đổi mới. Được như thế th́ dân tộc ta gặp may mắn. Nhưng h́nh như những lực lượng bảo thủ, giáo điều, và cuồng tín c̣n quá nhiều và nhiều tham vọng nên c̣n đang ḱm hăm nhịp sống b́nh thường của toàn dân tộc.

     e) Đặc điểm thứ năm là Đảng đă độc đoán và toàn trị, lại xử lư các việc theo kiểu bí mật và nội bộ, rất sợ công khai, sợ dân biết.
     Càng bí mật nội bộ th́ càng tha hồ tuỳ tiện, muốn duy tŕ độc đoán nên càng sợ hăi và cấm đoán công khai, không dám tranh luận công khai, không dám thông tin công khai.

     g) Đặc điểm thứ sáu là thích h́nh thức, phô trương.
     Bệnh h́nh thức th́ Hồ Chí Minh lên án từ lâu, nhưng ngày nay, bệnh cứ ngày càng phát triển nặng, ngày càng phổ biến, trở nên nhàm chán, kệch cỡm, đến nỗi dư luận xă hội và đại biểu Quốc hội phải lên tiếng.
     Suốt ngày, ta chỉ thấy kỷ niệm “chào mừng”, “lễ hội”, “mít tinh long trọng”,… Những người lănh đạo suốt ngày phải đi biểu diễn “mở miệng nói”, không thấy có lúc nào họ có th́ giờ để suy nghĩ và chuẩn bị được ư tưởng để lănh đạo.

22.12.2000

     Tóm lại, sự thật của mấy chục năm qua là:
     Cuộc cách mạng ở Việt Nam đă đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xă hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhă. Nhưng lại xây dựng nên một xă hội chưa tốt đẹp, c̣n nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, của một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ.
     Thế là ta đập tan một cái xấu xa và lại phải chấp nhận một cái xấu xa mới giống như hoặc tệ hại hơn tất cả những xấu xa mà ta từng chửi rủa, từng căm thù.

     Như thế là v́ sao ???
     Có thể nói sự biến chuyển từ xấu đến xấu ấy là sự biến chuyển tự nó, không ai chủ động được. Con người có thể đề ra những lư tưởng, những mơ ước, nhưng cuộc sống quá phức tạp và tế nhị, mà con người chỉ có những ảo tưởng vẫn là sản phẩm của một sự vận động quái ác.

     Nh́n lại, thấy rất rơ tâm sự của Nguyễn Huệ lúc c̣n trẻ:
     Ta đập tan cái xấu xa này rồi thay thế nó bằng cái ǵ ? Hay lại lập lại những cái mà ta đă đập tan ?
     Ta lại thấy rất rơ Nguyễn Nhạc khi lên ngôi, và sau này, chính Nguyễn Huệ cũng khi lên ngôi, đều không dám cho diễn vở tuồng “chàng Lía” là vở tuồng ca ngợi sự nổi dậy.
     Và chân lư hiện ra là: người nổi dậy khi đă cầm quyền lại rất sợ nổi dậy !?

     Trong nhân dân cũng có một chuyển biến tâm lư như tôi đă ghi trong bút kư “Một Cái Nh́n Trở Lại” (bài 2): từ quan hệ dân và cán bộ là mẹ con, vậy mà chỉ sau mấy ngày đă trở thành quan hệ giữa “thưa ông” và “nhà cháu’’.
     Ta không lấy làm lạ là tất cả những mỹ từ được sử dụng chỉ là để củng cố sự cầm quyền của Đảng cộng sản. Đó chính là sự chuyển biến từ Đảng cộng sản là những người con thân yêu thực sự của nhân dân lao động thành một tầng lớp thống trị gồm một tập đoàn các quan chức chỉ muốn bóc lột, hành hạ, sai khiến nhân dân và lừa bịp nhân dân, và lại cứ nhân danh là “con của nhân dân” và “đầy tớ của nhân dân”
     Sự nỗ lực toàn bộ và trung tâm của Đảng cộng sản hiện nay chỉ tập trung vào sự củng cố quyền lực của Đảng. Cả một bộ máy công tác tư tưởng đồ sộ ngày đêm ḥ hét chỉ để ca ngợi Đảng, đề cao Đảng, khai thác hết mức thắng lợi của toàn dân và tô vẽ thành thắng lợi của Đảng. Cả một bộ máy “nói lấy được”, lừa bịp, dối trá đến trắng trợn, kiểu lưu manh.
     Bên cạnh đó, nảy sinh một hệ thống các tổ chức an ninh, từ Bộ công an mà lực lượng lớn bằng nửa Quân đội, đến các cơ quan an ninh nội bộ đủ các loại, đầy quyền lực và thủ đoạn. Những thủ đoạn an ninh đều được học tập từ các chế độ phong kiến, phát xít và độc tài cộng sản. Tất cả nhằm bảo vệ cho quyền lực của Đảng cộng sản. Trong lúc Đảng cộng sản ngày càng tỏ ra kém sức lực trong việc quản lư xă hội b́nh thường.
     V́ Đảng cộng sản chỉ quản lư được một “xă hội trại lính”.
     Đây chả phải sự xét lại, sự sám hối ǵ hết. Mà đây chỉ là một nỗi ḷng cay đắng trước một sự thật phũ phàng. Cả đất nước ngày ngày kỷ niệm, ngày ngày đại hội và lễ hội, chỉ để tụng niệm một quyền lực đă lung lay và đă thoát ra khỏi ḷng tin của nhân dân, luôn luôn bắt toàn quân toàn dân và cả toàn Đảng phải ca ngợi và dối trá.

     Bây giờ làm sao ?
     Thực ra, ta chỉ mong Đảng cộng sản, vốn là Đảng trọng sự thật, nhận ra cái sự thật cay đắng này, cái sự thật lịch sử này, tự điều chỉnh ḿnh cho thật phù hợp với lư tưởng mà ḿnh đă hứa với nhân dân. Nhưng càng ngày lại càng thấy cái mong ước đầy thiện chí nọ vẫn chỉ là ảo tưởng lớn, toàn Đảng (tức là nhóm người cầm đầu) càng ngày dấn sâu vào tâm lư, tư duy và phong cách của một lớp thống trị xa rời và ngược lại với nhân dân, càng ngày càng trở thành sản phẩm của chính những tâm lư, tư duy và phong cách của chính họ, càng ngày càng trở thành vật cản nặng nề cho mọi tiến bộ xă hội.
     Càng ngày bộ máy càng làm những việc tàn ác, độc đoán và vẫn cứ cao giọng nhân danh cách mạng, nhân danh nhân dân, nhân danh Hồ Chí Minh, nhân danh lịch sử thắng lợi của dân tộc.

24.12.2000

     Thế là tận những ngày cuối của Thế kỷ XX và của Thiên niên kỷ thứ II th́ mới nhận được rơ nét một sự kiện lịch sử lớn của đất nước.

     Đó là:
     Từ một Đảng sinh ra từ nhân dân, được nhân dân nuôi nấng và bảo vệ, có những đảng viên tiên phong gương mẫu đi đầu trong gian khổ chiến đấu và hy sinh nhằm đưa đất nước giành được độc lập. thống nhất, hoà b́nh, nhưng từ ngày toàn đất nước được thống nhất hoà b́nh và độc lập, th́ cái Đảng ấy lại tồn tại như một Đảng cai trị. Đảng đó ra sức củng cố t́nh trạng độc đảng chuyên chế về tư tưởng và chính trị, tạo ra một xă hội đầy tham nhũng, đầy dối trá và lừa bịp, mọi người sống trong cảnh đóng tṛ giả dối, ngày ngày nảy sinh lớp lớp người nịnh bợ, cơ hội, các tệ nạn xă hội lan tràn phát triển. Càng hô hào chống, bỏ và xoá, lại càng nặng nề thêm. Đảng cai trị ngày càng chuyên chế một cách quyết liệt để giữ vững sự chuyên chế của ḿnh, che lấp sự kém cỏi bất lực của ḿnh, đàn áp mọi phát triển ở các lĩnh vực khoa học chuyên môn, luôn coi sự giữ chắc truyền thống giá trị xă hội của ḿnh là quan trọng hơn tất cả mọi phát triển của xă hội, mọi sự nảy nở và phát triển của mọi cá nhân trong xă hội đó.

     T́nh trạng này đặt đất nước đứng trước hai t́nh huống cơ bản:

1.     Đảng cai trị phải nhận thức rơ được sự kém cỏi, bất lực của ḿnh mà tự đổi mới, chấp nhận một thể chế dân chủ phù hợp với thông lệ dân chủ của thế giới, bỏ đi cái quan niệm lạc hậu lỗi thời phân biệt dân chủ tư sản và dân chủ vô sản; tự hạn chế ḿnh trong vai tṛ lănh đạo chính trị thực ḷng v́ nhân dân, v́ sự phát triển của đất nước. Như thế th́ Đảng vẫn giữ được cái lịch sử vẻ vang của ḿnh mà vẫn có vai tṛ quan trọng trong lịch sử.

2.     Không làm như thế mà cứ khai thác một cách bừa băi thắng lợi của dân tộc, ngoan cố duy tŕ chế độ độc đảng và toàn trị th́ sớm muộn nhân dân sẽ chán ghét và do đó dẫn đến đổ vỡ, tạo ra những tai hoạ khôn lường cho đất nước và dân tộc, tai hoạ ấy c̣n nặng nề gấp nhiều lần tai hoạ của Cải cách ruộng đất và tai hoạ bắt cả nước xây dựng xă hội chủ nghĩa. Tai hoạ ấy sẽ xoá sạch vai tṛ của Đảng trong lịch sử và Đảng sẽ phải chịu tội trước lịch sử.

     Sự thực quá tŕnh đó đă bắt đầu. Nhân dân cứ có cuộc sống của nhân dân, nhân dân cứ sống, và xă hội cứ tiến lên.
     Đáng lo thay cho bộ phận lănh đạo mà tài và tầm nh́n th́ dưới trung b́nh, đức th́ cũng không hơn mức thông thường trong nhân dân, mà ngày càng kém hơn.
     Đáng lo thay cho những bộ phận lănh đạo ấy và đáng lo thay cho số phận của nhân dân phải chịu đựng sự lănh đạo ấy.

     Có thể thấy rơ rằng: chế độ độc đảng, độc tài và toàn trị ngày càng đi sâu vào các thủ đoạn gian dối và tàn bạo để tự duy tŕ, tự bảo tồn chế độ ấy, thế mà c̣n huênh hoang nói là chế độ xă hội chủ nghĩa đầy dân chủ và nhân đạo. Thực chất là chế độ th́ rất dă man, cho nên phải dùng nhiều thủ đoạn để lừa bịp nhân dân.

     Tạm kê một số thủ đoạn như sau:

     A. Thần thánh hoá, thiêng liêng hoá Đảng, cấp uỷ và các nghị quyết. Điều vô lư là bắt toàn dân phải học nghị quyết của Đảng.
     - Đảng có nhiều Nghị quyết quá, Nghị quyết của nhiều cấp, Nghị quyết của nhiều ngành. Đẻ ra nhiều thứ tổ chức Đảng quá, và những tổ chức đó lại tha hồ mà có nghị quyết và chủ trương.
     - Một người dân phải học, phải biết và phải thi hành nhiều thứ quá.
     - Có một đ̣i hỏi phổ biến là coi Nghị quyết của Đảng quan trọng hơn, cao hơn quyết định của các cấp chính quyền.
     - Quyết định của chính quyền mà không có ư kiến của Đảng chấp nhận th́ không có giá trị thi hành. Nhiều khi quyết định của Đảng phủ nhận hoặc bác bỏ quyết định của chính quyền. Người có trách nhiệm ở chính quyền mà không phải là đảng viên và cấp uỷ viên th́ ư kiến thường bị coi thường.
     - Nghị quyết thường là nói những khái niệm và thành ngữ chung chung, bao quát phạm vi rất rộng, thế rồi bất cứ việc ǵ trong sinh hoạt xă hội cũng đều phải quy chiếu vào nghị quyết nọ, nghị quyết kia, làm ra vẻ Đảng soi sáng đến tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống
     - Khi trong thực tế thấy rơ là những điều nêu trong Nghị quyết không thể thực hiện được, th́ lại quay vẽ chữ: Nghị quyết là đúng, là hay, nhưng những người tổ chức thực hiện kém. Chỉ có thi hành nghị quyết là kém, c̣n nghị quyết th́ lúc nào cũng đúng, cũng có ư nghĩa quan trọng, thậm chí tài t́nh. Không có bất cứ một hiện tượng xấu nào có nguồn gốc từ Nghị quyết cả !
     - Không ai, kể cả báo chí, cá nhân được quyền nhận xét phê phán, phân tích các nghị quyết cả. Đă là nghị quyết th́ chỉ có đúng và tài t́nh, là rất thiêng liêng !

     B. Khuyến khích và bồi bổ tệ nạn sùng bái cá nhân là tệ nạn đă bị lên án nặng nề trong phong trào cộng sản thế giới.
     - Bao giờ ư kiến của Bí thư, uỷ viên Thường vụ và cấp uỷ cũng là quan trọng, là thiêng liêng, là chân lư. Luôn luôn những ư kiến này được trích thuật, có khi chỉ là một ư kiến vớ vẩn, ai cũng nói được. Trong các phương tiện thông tin đại chúng, mục “hoạt động của các vị lănh đạo” bao giờ cũng là mục quan trọng ở trang nhất, tất cả chiều dài của tin, khổ rộng của ảnh đều được quy định chặt chẽ.
     - Ở tất cả các loại báo th́ các thông tin và hoạt động, và hội nghị về lễ kỷ niệm, Đại hội và chào mừng vv… chiếm đến 80%, c̣n những thông tin có ích chỉ chiếm 10-20%.
     - Một người có địa vị trong xă hội th́ chức vụ trong Đảng cũng là quan trọng nhất, bao giờ cũng đưa ra trước hết như là Bí thư, uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên cấp uỷ.
     - Trong các cáo phó người chết th́ danh hiệu đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam cũng là danh hiệu vẻ vang lớn nhất, hơn tất cả các danh hiệu khác …
     - Đảng cố tạo nên các phong tục tập quán, các tục lệ xă hội, cái ǵ cũng phải thần phục Đảng, thần phục các quan chức của Đảng, tạo ra một tục lệ là mọi người b́nh thường phải lập công để trở thành đảng viên, dù phải lạy lục, nịnh bợ, chạy chọt, thậm chí có lúc phải hối lộ tiền nữa. Tôi nhiều lần tự hỏi Đảng có cần ǵ phải có đến 2-3 triệu đảng viên và vẫn c̣n đang t́m cách phát triển nữa, trong khi bây giờ không cần có sự hy sinh như trong chiến tranh và trong khi ai cũng thấy chất lượng đảng viên ngày càng sa sút. Vậy cố gắng tăng số lượng làm ǵ? Đó cũng lại là một sự phi lư nữa …

30.12.2000

Bài thơ rất tâm đắc của Bùi Minh Quốc:

Cay đắng thay !
Các guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất
ù ĺ quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu mấy ai c̣n ngây
Cay đắng thay
Mỉa mai thay
Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính bộ máy này.

----- O -----

Thư của nguyên thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật quốc hội, gửi lănh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

CỘNG HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

--- O ---

Hà Nội, ngày 18/10/2004.

Kính gửi:
     Bộ Chính trị Ban Chấp hànhTrung Ương Đảng.
     Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Đồng kính gửi:
     Đảng uỷ Công an trung ương,
     Uỷ ban pháp luật của Quốc hội.

- Về việc phải sửa chữa, chấm dứt ngay chức năng làm công việc An ninh của Tổng cục 2 Bộ Quốc pḥng.

Tôi là Nguyễn Tài, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội khoá VIII, xin tŕnh bày lên Bộ Chính trị, Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội và các cơ quan có liên quan, ư kiến của tôi về "Về việc phải sửa chữa, chấm dứt ngay chức năng làm công việc An ninh của Tổng cục 2 Bộ Quốc pḥng".

Hồi tháng 1/2000, tôi được mời dự cuộc họp “sơ kết 3 năm thi hành nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh quốc gia"

Tại cuộc họp này - do đồng chí Trần Đức Lương và đồng chí Lê Minh Hương chủ tŕ - tôi đă có phát biểu một số ư kiến bằng văn bản; trong đó có phần đề cập việc quy định sai chức năng của Tổng cục 2 Bộ Quốc pḥng, vừa trái với nguyên tắc Đảng, vừa trái pháp luật của nhà nước ta. (Xin kèm theo đây đoạn nội dung ư kiến của tôi về việc này). Nhưng suốt từ đó đến nay, tôi không nhận được ư kiến trả lời nào, rằng ư kiến của tôi có được báo cáo lên Bộ chính trị hay không ? Và Bộ chính trị có thừa nhận ư kiến của tôi là đúng hay không ? (Theo tôi, đó là trách nhiệm đă làm việc tuỳ tiện của các đồng chí Uỷ viên Bộ chính trị thường trực tổ A47).

Sau đó, ngày 1/8/2000, tôi đă có thư gửi đến đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh để nhắc việc này (cùng vài việc khác). Nhưng cũng không được hồi âm.

Những thực tế diễn ra từ đó đến nay đă chứng minh việc quy định sai chức năng của Tổng cục 2 Bộ Quốc pḥng, đă gây ra nhiều hậu quả tai hại cho Đảng và Nhà nước ta (như: Vụ Sáu Sứ; vụ bao vây và xét giấy những người ra vào nhà trung tướng Trần Độ; vụ dính đến bọn Năm Cam,… tất cả đều do tổng cục 2 tiến hành).

Tất cả những t́nh h́nh kể trên - nếu đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đang hô hào học tập và làm theo - th́ đều chứng tỏ trong Đảng ta “C̣n rất thiếu dân chủ nội bộ" và "kém văn hoá trong giao tiếp"; cũng như "thiếu b́nh đẳng trên tinh thần giữa các đảng viên về trách nhiệm trước sự nghiệp cách mạng của Đảng và của Dân tộc".

Những vấn đề này cũng cần kiên quyết khắc phục sớm, để Đảng được thêm trong sáng, lành mạnh, vững vàng.

Tôi có nghe nói: Có người đă chất vấn đồng chí Lê Đức Anh là người thay mặt Bộ Chính trị kư văn bản về Tổng cục 2 dẫm chân lên chức năng của ngành công an; th́ đồng chí Lê Đức Anh trả lời: "Cũng như trong kinh tế, phải có cạnh tranh th́ mới tiến bộ được” (Tôi không thể tưởng tượng được một đồng chí uỷ viên Bộ chính trị, thường trực Ban bí thư mà có quan điểm xa lạ với quan điểm của Đảng đến như thế ! Chỉ chứng tỏ sự “ căi bây" và lộ rơ ư đồ cá nhân trong vụ này).

Nên một lần nữa, tôi có thư này để nhắc lại:

·        Yêu cầu Bộ Chính trị sớm cho sửa văn bản của Bộ Chính trị về chức năng của Tổng cục 2 Bộ quốc pḥng (do đồng chí Lê Đức Anh kư), làm cơ sở cho Chính phủ sửa nghị định quy định nhiệm vụ, chức trách của Tổng cục 2 Bộ quốc pḥng, lấn sân và trùng dẫm chức trách của ngành Công an.

·        Yêu cầu Bộ Chính trị nêu gương "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"; bằng cách giao cho Viện Kiểm sát trung ương phối hợp với Đảng uỷ Công an trung ương khởi tố ngay vụ án T4, và truy tố triệt để mọi cá nhân khác trong tổng cục 2 Bộ quốc pḥng v́ đă đồng loă những hành vi phạm pháp.

Là cán bộ lăo thành cách mạng, tôi cũng xin nói thẳng: Nếu Bộ Chính trị vẫn t́m cách lảng tránh với lư do “để giữ ổn định chính trị”; th́ thực tế sẽ là gây mất ổn định chính trị ngay trong nội bộ Đảng và Nhà nước; mà lịch sử- vốn công bằng và nghiêm khắc với mọi người - sẽ không bỏ qua trách nhiệm và tư cách của tập thể cũng như cá nhân các uỷ viên Bộ Chính trị đương nhiệm.

Tôi hy vọng ư kiến của tôi- học tṛ trung thành của Hồ Chí Minh- được Bộ Chính trị và các cơ quan có liên quan coi trọng đúng mức.

Xin cám ơn.

Kính,

Nguyễn Tài.
Nhà số 25 ngơ 4 Đặng Văn Ngữ - Trung Tự - Hà Nội.
Điện thoại: 04.8523826 hoặc 068.42671.

----- O -----

Ban biên tập: Trong hội nghị Đảng uỷ quân sự Trung Ương mở rộng, ngày 24/8/2004. Có một báo cáo nhận định về "các lực lượng thù địch". Chúng tôi đăng tải tài liệu này để độc giả có dịp tham khảo thêm. Mọi ư kiến b́nh luận xin được dành cho độc giả.

Việt Nam - Đông Dương Từ Nay Đến Đại Hội X
(Báo cáo tại Hội nghị ĐUQSTW mở rộng, ngày 24/8/2004)

Với ưu thế vượt trội về kinh tế và quân sự, Mỹ đẩy mạnh triển khai chiến lược toàn cầu với mức độ cực đoan hơn, hiểu nhiều hơn nhằm nhanh chóng áp dặt sự lănh đạo độc tôn, khẳng định vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ trên thế giới.

Cách mạng Việt Nam tiếp tục đối mặt với 4 nguy cơ đă được các Đại hội Đảng xác định. Với mục tiêu xoá bỏ vai tṛ lănh đạo của ĐCS Việt Nam chuyển hoá chế độ XHCN ở Việt Nam, Mỹ gia tăng các hoạt động “diễn biến hoà b́nh” bằng những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đặc biệt là âm mưu chia rẽ nội bộ, sử dụng lực lượng cấp tiến, phản động trong và ngoài nước, đẩy mạnh hoạt động thúc đẩy các diễn biến trong nội bộ ta.

Dưới đây là một số t́nh h́nh thế giới, khu vực và trong nước thời gian qua, có tác động trực tiếp tới An ninh – Quốc pḥng của Việt Nam . Dự báo một số âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch từ nay cho đến Đại hội 10.

I. - Âm Mưu Ư Đồ Của Mỹ Đối Với Thế Giới Và Khu Vực
……………………………………………………………..…………………….

II. - Chiến Lược Diễn Biến Hoà B́nh Của Mỹ Và Các Thế Lực Thù Địch Đối Với Việt Nam Hiện Nay Và Dự Báo Trong Thời Gian Tới.
……………………………………………………...…………………………….

III. - Các Thế Lực Thù Địch Tăng Cường Sử Dụng Bọn Cấp Tiến Phản Động Trong Và Ngoài Nước Đánh Phá Đảng Và Quân Đội, Tập Trung Vào Chống Phá Đại Hội 10:

Bọn phản động cấp tiến trong và ngoài nước từ rất sớm, đă xác định những chủ trương, biện pháp, thủ đoạn xây dựng, củng cố tổ chức và luận điệu tuyên truyền đề tập trung chống phá quyết liệt Đại hội ĐCS Việt Nam lần thứ 10.

1. Hoạt động của bọn cấp tiến, phản động trong nước.

a. Chủ trương.

* Ngày 22/2/2004, tại 62 Ngô Quyền – Hà Nội đă diễn ra cuộc gặp mặt qua một số nhân vật cấp tiến Hà Nội gồm Hoàng Minh Chính, Hồng Hà, Thanh Giang, Hoàng Tiến … Cuộc gặp triển khai một số công việc sử dụng từ nay đến Đại hội Đảng X.

Mục tiêu cần đạt được là phải làm cho Đảng Cộng sản rối loạn, t́nh h́nh xă hội khủng hoảng nhiều mặt, nhiều nơi mà Đảng không giải quyết được, buộc Ban lănh đạo phải phân hoá, đi đến tan ră hoặc tự tuyên bố giải tán.

Phương châm hoạt động là không bạo động, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nước.

Biện pháp: Tuyệt đối bí mật, thận trọng, cảnh giác, không manh động, tránh đối đầu với công an để bảo toàn lực lượng trong thời gian từ nay cho đến Đại hội Đảng X.

Tập trung vào việc soạn thảo tài liệu có tính chất “văn kiện” gửi Đại hội Đảng X.

* Ngày 7/7/2004 Hồng Hà nhận định: “Đại hội X sẽ diễn ra rất gay gắt quyết liệt. Đây sẽ là Đại hội cuối cùng của ĐCS. Cần tích cực đấu tranh trước mắt là giải quyết vấn đề Phạm Quế Dương theo chiều hướng thả bổng, giải quyết vấn đề Lê Đức Anh rơ ràng, rành mạch, các tài liệu viết xong phải chuyển đến tận các “Đảng bộ địa phương”.

b. Mục tiêu.

* Đại hội Đảng X là cái đích mà các hoạt động chống phá của lực lượng cấp tiến đang hướng tới. Chúng đều cho rằng sẽ “có những bước đột phá tại Đại hội Đảng X” hoặc “Đại hội Đảng X là Đại hội cuối cùng của ĐCS Việt Nam”. Các bước đi của chúng như sau:

Bước 1: Làm xói ṃn và mất niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lănh đạo của Đảng. Từ đó tạo sự đối lập giữa Đảng và Nhân dân.
Bước 2: Làm suy yếu hệ thống lănh đạo của ta bằng cách đẩy mâu thuẫn nội bộ trong Bộ chính trị, Ban bí thư, BCH TW.
Bước 3: Vô hiệu hoá các cơ quan trọng yếu của Đảng, quân đội và công an “làm “ù tai”, “mờ mắt” của Đảng và Quân đội” (nguyên văn lời Lê Hồng Hà).
Bước 4: Sử dụng sức ép từ sự đấu tranh đ̣i dân chủ, chống tham nhũng, chống Đảng độc tôn lănh đạo … của các lực lượng trí thức, CCB, lăo thành cách mạng kết hợp với sức ép ngoại giao từ bên ngoài tạo những chuyển biến “quan trọng” tại Đại hội Đảng X theo hướng có lợi cho “phong trào dân chủ”.

* Chống phá về nội bộ, nhân sự. Chúng viết bài xuyên tạc và bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lănh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội qua các thời kỳ, khoét sâu vào những cái mà chúng cho là mâu thuẫn, gây chia rẽ ngay trong bộ lănh đạo cấp cao của Đảng. Nhà nước từ đó tuyên truyền về sự mất đoàn kết, bất ổn chính trị của ban lănh đạo và chế độ, reo rắc sự nghi ngờ, từng bước làm giảm ḷng tin của nhân dân vào sự lănh đạo của Đảng và Nhà nước.

* Chống phá về tư tưởng lư luận. Chúng tán phát rộng răi các tài liệu có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lư luận Chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh, khuếch trương, cổ suư cho CNTB, phủ nhận con đường CNXH ở nước ta. Lực lượng cấp tiến cho rằng: “CNXH không c̣n thuyết phục và khả thi để nêu cao ngọn cờ lư tưởng Cộng sản. Trong Đảng cộng sản Việt Nam bây giờ có nhiều bế tắc, tư tưởng đóng băng, lại lai căng, tham ô, tham nhũng, tiêu cực từ chóp bu trở xuống”.

Ở góc độ chống phá khác, chúng cho rằng : chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay không phải là chế độ mà Bác Hồ đă chọn lựa, mà thực ra chỉ là chế độ TBCN hạng bét, lănh đạo th́ bao che cho nhau, gây bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết trong bộ bộ Đảng.

c. Thủ đoạn hoạt động gần đây có một số điều chính.

Chống phá của bọn cấp tiến ngày càng mang tính thống nhất cao hơn, qui mô rộng hơn có bài bản và có kế hoạch thực hiện cụ thể. Chúng chủ trương không đứng ra thành lập “tổ chức”, “hội”, đấu tranh mềm dẻo, lôi kéo, tập hợp lực lượng. Thời gian qua, sự móc nối, liên hệ phối hợp hoạt động chống phá của cấp tiến mà miền Bắc - Trung – Nam giữa các nhóm cấp tiến trong nước và phản động người Việt Nam ngoài nước đă nâng lên một bước. Đặc biệt, chúng gia tăng móc nối với ĐSQ Mỹ tại Hà Nội và bắt đầu có sự phối hợp giữa cấp tiến, cơ hội chính trị với phản động tôn giáo. Sự thống nhất trong mục tiêu, kế hoạch và nội dung chống phá được thể hiện rơ hơn.

Thứ nhất: Chuyển từ “đấu tranh công khai” sang hoạt động “ngầm” nhằm bảo toàn lực lượng chờ đợi thời cơ, trong khi đẩy mạnh viết bài, tuyên truyền mở rộng đối tượng cảm hoá, giác ngộ tư tưởng “dân chủ, đa nguyên” nhằm chuyển hoá và lôi kéo các lực lượng khác tham gia” “ phong trào”.

Ngày 24/3/2004 Hồng Hà nói: “Chúng ta không thể đấu tranh bằng phương pháp biểu t́nh, như thế sẽ bị chính quyền đàn áp ngay. Do vậy ta cần phải tăng cường viết bài nhằm cảm hoá, giác ngộ quần chúng nhân dân để thay đổi chế độ”.

Thứ hai: Tập trung đấu tranh bảo vệ và đ̣i trả tự do cho các nhân vật cấp tiến đang bị giam giữ. Lưu ư nhất là Thanh Giang được giao nhiệm vụ liên hệ với Đại sứ quán Mỹ phối hợp đấu tranh, tạo áp lực quốc tế với chính quyền Hà Nội. Mặt khác, tiến hành thành lập “uỷ ban bảo vệ Nguyễn Vũ B́nh” để gây áp lực với chính quyền.

Thứ ba: Thu thập thông tin và đẩy mạnh viết bài, phát tán các tài liệu chống phá Đại hội Đảng X, mục đích là từ nay đến Đại hội Đảng X sẽ xoá bỏ vai tṛ lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, nội dung chống phá chủ yếu là về đường lối nhân sự như: Tuyên truyền, đả phá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, tố cáo cán bộ lănh đạo cao cấp gây chia rẽ nội bộ đảng trước Đại hội Đảng …

Thứ tư: Lợi dụng, kích động hoặc “giả danh” một số cán bộ lăo thành cách mạng để viết cái gọi là “thư góp ư” gửi các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước và quân đội. Tán phát, nhào nặn, lồng ghép tư tưởng phản động trong các tài liệu, lấy đó làm cơ sở, luận cứ để bảo vệ cho những quan điểm sai trái của chúng sau đó tuyên truyền rộng răi để tạo dư luận.

d. Về xây dựng lực lượng.

Ngày 12/4/2004, lực lượng dân chủ cấp tiến Hà Nội đă họp bàn đưa ra phương pháp tập hợp lực lượng trong thời gian tới như sau:

e. Luận điệu tuyên truyền.

Tuyên truyền xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín lănh đạo của Đảng, Chính phủ, lực lượng vũ trang trước thềm đại hội X.

Tuyên truyền về thực trạng tham nhũng trong đội ngũ cán bộ lănh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng các vụ án tham nhũng được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng làm tư liệu để tuyên truyền.

Đáng chú ư là quan điểm của Hồng Hà gộp tất cả tập thể Bộ chính trị như nhau cùng là những người có chức quyền nhưng lại sợ nhân dân, chỉ biết đến danh vọng, tham ô, hối lộ … và cho rằng: “bây giờ chúng nó đă an toạ nên chúng nó phải bảo vệ nhau để cùng tồn tại … phải tăng cường bịp, bịp rất mạnh …”. Về vấn đề này, thủ đoạn của chúng, theo như lời Hồng Hà là “đánh tỉa”: “đánh từng người một, từng ngành một, từ cũ đến mới, từ thấp đến cao … có ít phải nói mạnh, chưa có phải t́m cho có mà đánh.

Tuyên truyền về t́nh trạng bè phái, mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh quân đội, trong nội bộ lănh đạo Đảng và Nhà nước ta.

Tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta:

Xuyên tạc về con đường, phương hướng phát triển của Việt Nam.

Xuyên tạc vê đường hướng phát triển kinh tế của Việt Nam.

Phản ứng quyết liệt với kết quả Hội nghị TW 9, Hội nghị TW10.

Vui mừng trước việc Hạ viện Mỹ thông qua dự luật nhân quyền Việt Nam 2004 ngày 10/6/2004. Ngày 27/7/2004, Hoàng Minh Chính nói: “Mỹ sẽ chi cho các lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam 4 triệu USD. Tuy dự luận này c̣n phải được Thượng viện Mỹ thông qua, nhưng ta phải thấy đây là những dấu hiệu đáng mừng đối với phong trào dân chủ ở trong nước”.

* Tấn công quyết liệt vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai tṛ lănh đạo của ĐCS phủ nhận chủ nghĩa Mác – LêNin, con đường đi lên CHXN, phủ nhận sự lănh đạo của ĐCS, tán dương đề cao CNTB “tự do – dân chủ” kiểu Mỹ.

* Đáng chú ư trong số phản động, cấp tiến trong nước, mà chúng tự gọi nhau là “lực lượng dân chủ” đang nổi lên Nguyễn Thanh Giang và Lê Hồng Hà được đồng bọn ca tụng là “cao tay” hơn cả. Hai nhân vật này đồng quan điểm với nhau, trong đó Thanh Giang thường viết tài liệu công khai, mang tính trí tuệ, đại diện cho giới trí thức. C̣n Hồng Hà th́ tự xưng là “đại diện cho cán bộ cách mạng lăo thành” thường viết bài dấu tên nặc danh, chọc sâu vào nội bộ Đảng, Quân đội và những vấn đề mang tính luật pháp. Đáng chú ư là Thanh Giang thường xuyên tiếp xúc, quan hệ với sứ quán Mỹ, với phóng viên đài báo nước ngoài, chống đối công khai và rất hung hăng. C̣n Lê Hồng Hà th́ thủ đoạn hoạt động bí mật, khôn khéo và nguy hiểm.

2. Hoạt động của lực lượng phản động Việt Nam lưu vong.

Đặc biệt, mối quan hệ trong ngoài được tăng cường thường xuyên, liên tục và phối hợp rất chặt chẽ, từ những vấn đề chiến lược lâu dài, đến những t́nh huóng, luận điệu “đấu tranh” cụ thể,

a. Nổi lên trong thời gian qua là “Đại hội lần 1 tập hợp dân chủ đa nguyên” THDCĐN) tổ chức tại Ba lan từ 26 – 28/7/2004.

Nguyễn Gia Kiểng đứng đầu tổ chức phản động này nói: “đây là dịp để các thành viên tập hợp chứng kiến tận mắt và tiếp xúc thực tiễn với một xă hội vừa ra khỏi chế độ cộng sản (Ba lan). từ đó, rút ra những kinh nghiệm để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam”. Thời gian ba năm sắp tới phải chăng rất quan trọng, v́ có thể có biến chuyển quan trọng trong sự h́nh thành nền dân chủ đa nguyên ở Việt Nam ? Tŕnh độ “sẵn sàng” của tập hợp phải ra sao để kịp ứng phó trên b́nh diện tổ chức và phát triển lực lượng tập hợp ? trên b́nh diện khả năng và phương tiện hành động ? trên b́nh diện vận động đoàn ngũ và huy động quần chúng, vận động quốc tế và tạo đà tiến với áp lực cần thiết ?…

* Những luận điệu tuyên truyền chống phá THDCĐN thông qua đại hội. Nổi lên là những đánh giá, phát biểu của Bùi Tín và Nguyễn Gia Kiểng. Khi nói về ĐCS Việt Nam, Bùi Tín cho rằng: “hiện nay chúng ta đang đứng trước một cái ngưỡng chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ trong xă hội có thể làm thay đổi lớn về bản chất trong chế độ. Chúng ta đang đứng trước một vận mệnh rất quan trọng trong khi nội bộ ĐCS có nhiều dấu hiệu rạn nứt …”. Kiểng chủ trương: “… chiến lược phải thay đổi, trước hết phải đánh vào những giá trị căn bản của nền văn hoá đă tạo ra thực trạng đáng buồn này.V́ thế, nên chúng ta cần có một cuộc đấu tranh văn hoá”.

* Một số nhận xét xung quanh đại hội toàn thế giới lần 1 của THDCĐN

Đại hội có sự tham dự của chính giới Ba Lan, kể cả các đảng phái cầm quyền hay đối lập, tất cả đều tỏ thái độ quan tâm đặc biệt đến Đại hội. Cựu tổng thông Ba lan Lech Walessa cũng gửi thư đến chúc mừng. Đại hội và hẹn gặp các “nhân vật đối lập Việt Nam”. Các cơ quan truyền thông của Ba lan, cũng như các tổ chức “dân chủ” “nhân quyền” ở Mỹ và Châu Âu, Úc đều rất quan tâm đến đại hội nay.

b. Đặc biệt ngày 4/8/2004 trên mạng internet bắt đầu xuất hiện lời “hiệu triệu khẩn của Hội đồng Quân nhân Cách mạng Việt Nam” kêu gọi lật đổ Bộ chính trị ĐCS Việt Nam. Tài liệu này cũng do chính THDCĐN soạn thảo và tán phát rộng răi trên các phương tiện thông tin công cộng và gửi cho bọn cấp tiến trong nội địa. “Thời cơ cho vận mệnh và lịch sử tổ quốc Việt Nam xoay vần đă điểm. chế độ độc tài, độc quyền và tàn bạo. CNXH Việt Nam đang cáo chung. Đây là thời điểm quan trọng và quyết định sự sống c̣n của dân tộc Việt Nam. tự do hay là chết. Toàn thể các chiến binh, quân nhân Việt Nam của cả hai chế độ cũ, mới hăy rũ bỏ quá khứ thù hận cùng đồng tâm, đoàn kết lại đứng lên, vùng dậy loại trừ toàn bộ Bộ chính trị ĐCS Việt Nam. Nơi đó đă xảy ra tất cả các tội ác với dân tộc. Tự do hay chờ chết lần ṃn trong đói khát và sợ sệt. Nếu chúng ta khiếp sợ th́ con cháu chúng ta sẽ mạt nhược trước nạn nội xâm tàn bạo này”.

3. Hoạt động của các thế lực thù địch chống phá quân đội và trực tiếp chống Tổng cục II ngày càng quyết liệt.

Với ư đồ làm suy yếu các công cụ bảo vệ Đảng và chế độ XHCN này, lực lượng phản động, cấp thiến đang tăng cường chống phá quân đội, mà tập trung trước hết là tổng cục II. Bọn đầu sỏ đánh giá: “Một trong những biện pháp để thúc đẩy các hoạt động “dân chủ” “tự do” “chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ Đảng”, “chống tiêu cực …” đó là phải t́m bằng chứng, tán phát tài liệu tuyên truyền, bôi nhọ Tổng cục II, hạ thấp uy tín của Tổng cục II với Đảng và Nhà nước và gây mâu thuẫn ngay trong nội bộ Tổng cục II”.

V́ vậy, trong suốt thời gian qua, bên cạnh các hoạt động chống Đảng, chống chế độ, lực lượng phản động cấp tiến tập trung chĩa mũi nhọn chống phá Tổng cục II một cách có hệ thống, có tổ chức, thống nhất cả về nội dung, phương thức và thời điểm chống phá ở cả trong và ngoài nước với mục đích hạ thấp uy tín của Tổng cục II với Đảng, với quan đội tiến tới làm suy yếu sức mạnh, “đánh sập” Tổng cục II để chúng dễ bề chống phá ngay từ trong nước ra đến ngoài nước.

3.1. Bọn cấp tiến phản động trong nước tập trung viết bài chống phá, xuyên tạc.

3.2. Hoạt động phối hợp của bọn phản động ở ngoài nước.

Trong những hoạt động chống phá có trọng điểm này, bọn cấp tiến đă nhận được sự yểm trợ, phối hợp của lực lượng phản động người Việt Nam ở nước ngoài và một số thế lực nước ngoài, trong đó có các phương tiện thông tin đại chúng như ERFA, BBC, RFI …

Trong đại hội toàn thế giới của THDCĐN lần thứ nhất tại Ba lan ngày 28/7/2004, lực lượng phản động cho rằng “đây là thời cơ thuận lợi nhất, chín muồi nhất” để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Ngày 27/7/2004 THDCĐN đă cho in ấn và phân phát cho các thành viên tham gia đại hội tại Ba lan thư của Trần Đại Sơn cùng với bức thư của ông Nguyễn Nam Khánh đề ngày 17.6.2004 như tài liệu chính thức của đại hội. Trong đại hội, Bùi Tín nói: Tôi thông báo với các bạn một tin: ở cung đ́nh Hà Nội đang có cuộc đấu tranh lớn, sống mái với Đại tướng Lê Đức Anh. Lê Đức Anh đă dựng lên Tổng cục II năm 1995 … cách đây 1 tuần chúng tôi nhận được 1 văn kiện, văn kiện đó dài 13 trang do Thượng tướng Nam Khánh kư tên … tố cáo Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su, khai man để vào Đảng năm 1943, vào Đảng như vậy là phạm pháp, nhưng Anh được Lê Đức Thọ, Lê Duẩn che chở, nâng cao và đă ngoi lên chức cao nhất … và bây giờ đă có chứng minh Lê Đức Anh là tên cai đồn điền và có tội ác với phu đồn điền, do đó nhân dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên, các tướng của QĐNDVN đă kêu gọi, yêu cầu khẩn thiết BCT, Ban kiểm tra Trung ương, Toà án tối cao xét xử công khai vụ việc này.

Hiện nay, ban lănh đạo đang lúng túng về các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao th́ mắc phải vấn đề nan giải này. Hơn một nửa số trong Bộ chính trị muốn chỉ thị bóp nghẹt vụ này giải quyết ở đằng sau hậu trường v́ sợ làm rung động nhân dân trong nước và thế giới, cho nên Lê Đức Anh đang khóc lóc trước Bộ chính trị xin nhận hết tội lỗi và xin không đưa ra công khai vụ này v́ ”không những xấu cho tôi mà c̣n xấu cho cả Đảng ta” … tất cả những cái tin đó có trong thư của Thượng tướng Nam Khánh …” ( trích nguyên văn từ băng ghi âm).

Trong thời gian tới lực lượng cấp tiến, phản động sẽ tiếp tục tăng cường các đ̣n đánh trực diện vào quân đội và Tổng cục II. Bùi Tín nhận định: “Sau loạt bài và thư của một số tướng lĩnh, nhóm dân chủ đă có dự kiến tung loạt thông tin ra trước TW 9 và rồi TW10, nhưng v́ lư do nào đó mà không thực hiện được, nghĩa là trượt thời điểm. Nhưng dù thế nào th́ cũng xảy ra nổ lớn, đó là điều cần thiết cho phong trào dân chủ. Thời điểm ngoài này sẽ công bố là khi ở trong nó công bố”.

3.3. Nhận định của t́nh báo và tài phiệt Mỹ: giới truyền thông, t́nh ái và tài phiệt Mỹ, phương Tây đă có đủ các tài liệu nội bộ và thư góp ư, kiến nghị … gửi BCHTƯ trong thời gian qua, và chúng đang đặc biệt quan tâm nghe ngóng, thu thập thông tin, tài liệu và phản ứng của dư luận về vấn đề này, nhưng chúng chủ trương chưa đưa tin.

Tóm lại:

* Các thế lực thù địch chống phá chế độ XHCN ở Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên, liên tục và từ hàng chục năm nay. Chúng dựa trên chính sách cực quyền của Mỹ, dựa trên yếu tố sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ đưa vào quá tŕnh toàn cầu hoá và lợi dụng chính sách mở cửa của ta để thâm nhập, móc nối, lôi kéo, kích động phá hoại ngầm … Tuy nhiên, qua mấy chục năm điên cuồng chống phá bằng thủ đoạn, biện pháp chúng cũng đă không thể đạt được mục đích chuyển hoá chế độ, xoá bỏ ĐCS Việt Nam.

Đ̣n công kích nguy hiểm nhất và cũng là đ̣n đánh cuối cùng mà chúng sử dụng ở Việt Nam cũng chính là thủ đọan mà chúng đă sử dụng thành công để xoá bỏ chế độ XHCN ở Liên xô và Đông âu, đó là địch lợi dụng t́nh h́nh có một số vấn đề xuất hiện trong nội bộ Đảng để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn nội bộ. Từ đó đi đến chỗ tự tan ră. Xuất phát điểm của chúng hiện nay như Liên xô trước đây, trước hết là chúng nhằm vào quân đội, công an và các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ nắm địch là an ninh, t́nh báo nhằm bịt tai, bịt mắt của Đảng, gây mất ḷng tin vào Đảng, vào quân đội, công an. Biện pháp của chúng là đánh tỉa từng bộ phận một, và gây mâu thuẫn giữa các bộ phận, lực lượng đó với nhau.

Điều mà kẻ địch đang chờ đợi nhất, coi đó là điều kiện tiên quyết cho thành công của chúng là ta tự làm mất ổn định từ thanh trừng, tự “thanh toán” lẫn nhau có như vậy chúng mới có cơ may thành công. Như Nguyễn Gia Kiểng đă nói “khi trong phát tín hiệu (tức là tín hiệu rối loạn) th́ bên ngoài ta mới sẽ tuyên bố”.

Bọn cấp tiến, phản động thời gian qua tích cực viết, phát tán tài liệu dưới dạng “đơn kiến nghị” “thư góp ư” … và chúng đặc biệt chú ư săn lùng các đơn thư của các đồng chí lăo thành cách mạng, các cuốn “Hồi kư chui”, các “tư liệu lịch sử” trên cơ sở đó, chúng xuyên tạc, bóp méo nhằm vào mục đích của chúng là chống phá, nói xấu Đảng và quân đội, kích động gây mâu thuẫn trong nội bộ ta.

Về đơn thư góp ư về những bức xúc về t́nh h́nh đất nước, nội bộ Đảng, t́nh trạng xă hội … cơ bản xuất phát từ trách nhiệm đối với Đảng, với đất nước của cán bộ Đảng viên, quần chúng tốt – các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước cần nghiêm túc xem xét. Tuy nhiên, nếu không quản lư và xử lư vấn đề này theo đúng nguyên tắc - đặc biệt là những thông tin sai lạc, xuất phát do thiếu thông tin, hoặc xuất phát từ những nhận xét, động cơ cá nhân th́ chắc chắn sẽ bị địch lợi dụng vừa tuyên truyền nói xấu Đảng, Nhà nước và lănh đạo, vừa kích động gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất ḷng tin của nhân dân vào Đảng, gây chia rẽ Đảng với quần chúng đặc biệt là trong t́nh h́nh phức tạp, sự phổ biến công nghệ thông tin rộng răi mang tính toàn cầu hiện nay.

4. Dự báo về hoạt động chống phá của lực lượng cấp tiến thời gian tới:

Nh́n lại toàn bộ quá tŕnh chống phá của lực lượng cấp tiến, phản động nhằm vào Đảng, quân đội trong thời gian qua có thể thấy: mục tiêu chống phá Đảng, quân đội được lực lượng này thực hiện xuyên suốt và nhất quán từ trước tới nay với sự chỉ đạo hỗ trợ của t́nh báo nước ngoài. Thời gian tới, mức độ chống phá Đảng, quân đội và Tổng cục II sẽ càng ngày càng quyết liệt hơn – với mục tiêu là “dọn đường” nhằm chuẩn bị” cho Đại hội X.

4.1. Cuộc “đấu tranh” chống chế độ XHCN, chống ĐCS Việt Nam và QĐNDVN do các lực lượng thù địch, cấp tiến, phản động, xét lại tiến hành rất quyết liệt. Quan điểm, thái độ của bọn chúng sẽ “cứng rắn” hơn, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm hơn, th́ chúng xác định đây là cơ hội cuối cùng.

Xin nhấn mạnh một lần nữa đánh giá của chúng, Hồng Hà nói: “Đại hội X sẽ diễn ra rất gay go, quyết liệt. Đây sẽ là Đại hội cuối cùng của ĐCS cần tích cực đấu tranh … tài liệu viết xong phải chuyển đến tận các “đảng bộ địa phương”.

4.2. Tiếp tục “đấu tranh” bảo vệ, thanh minh đ̣i thả tự do cho các phần từ cơ hội chính trị bị giam giữ và thổi phồng kết quả đấu tranh – mà tự cho là thành công như vụ Phạm Quế Dương, Trần Khuê.

Trong thời gian trước mắt theo nhận định của Hoàng Minh Chính “sau khi đấu tranh thắng lợi trong các phiên toà xét xử vụ án Trần Khuê và Phạm Quế Dương, lực lượng dân chủ cấp tiến cần phải tạm ngừng hoạt động một thời gian, nhằm đối phó với sự kiểm soát của công an, nhất là trong đợt ra quân, cao điểm truy t́m tài liệu “thư gửi BCT của Thượng tướng NNK”. Tuy nhiên, hoạt động đấu tranh đ̣i tự do cho các nhân vật c̣n đang bị giam giữ sẽ được lực lượng cấp tiếp tiếp tục đẩy lên theo như ư đồ của Hồng Hà đặt ra là: coi như vụ Quế Dương đă xong ta phải nhân cơ hội này tiếp tục đấu tranh đ̣i chính quyền phải trả tự do cho Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh.

4.3. Đẩy mạnh móc nối trong – ngoài.

Hoạt động móc nối giữa các nhân vật dân chủ cấp tiến trong nước được thực hiện vưói mật độ dầy hơn, thông qua các chuyến đi của một loạt các nhân vật chủ chốt: Hà Sỹ Phu ra Hà Nội (12/2003), Nguyễn Thanh Giang vào miền Nam (3/4/2004), Bùi Minh Quốc ra Hà Nội (4/5/2004), Thanh Giang xuống Hải Pḥng (5/2/2004), Mạnh Sơn vào miền Nam (6/2004) … sự phối hợp đấu tranh “trong – ngoài” đang được đẩy lên một mức độ cao hơn, thể hiện ở hai khía cạnh: một là sự gia tăng móc nối liên hệ giữa Nguyễn Thanh Giang và ĐSQ Mỹ, hai là giữa Hoàng Minh Chính và lực lượng phản động người Việt Nam lưu vong (chủ yếu tại Pháp). Các thông tin thu thập được cho thấy hoạt động móc nối giữa Mỹ và các phần tử cấp tiến (thông qua Thanh Giang) tập trung mạnh nhất về vấn đề dân chủ, nhân quyền (đặc biệt là khoảng thời gian trước khi Hạ viện Mỹ thông qua dự luận nhân quyền Việt Nam 2004 và Phạm Quế Dương bị xét xử).

Nhiều dấu hiệu cho thấy các hoạt động của các nhân vật cấp tiến thời gian qua đă nhận được sự chỉ đạo của CIA hoặc ĐSQ Mỹ (ví dụ thông qua Thanh Giang và một số nhân vật khác hiện vẫn c̣n nằm trong bóng tối). Hoạt động của chúng đă “ch́m” đi nhưng “tính hiệu quả” lại tăng lên, mật độ tiếp xúc giữa Thanh Giang và ĐSQ Mỹ dầy lên nhất là vào thời điểm Phạm Quế Dương chuẩn bị được đưa ra xét xử, hoạt động của chúng được nguỵ trang rất kỹ lưỡng, hoạt động chống phá của chúng mang tính tổ chức chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng, mang tính mục đích cao, có bước đi rơ ràng (đầy uy tín của một số cán bộ lăo thành cách mạng lên cao sau đó sử dụng chính họ để “đánh” vào nội bộ Đảng, nội bộ quân đội”. Mỹ đánh giá việc lật đổ chế độ hiện nay ở Việt Nam sẽ chưa thể tiến hành chừng nào Mỹ chưa xây dựng được ở Việt Nam cái gọi là “lực lượng đối lập” thân Mỹ và một Gdorbachov” của Việt Nam. Những động thái điều chỉnh trong phương hướng, cách thức hoạt động của lực lượng cấp tiến trong thời gian gần đây, cùng với những mối quan hệ, móc nối giữa ĐSQ Mỹ và lực lượng cấp tiến mà trung tâm là Nguyễn Thanh Giang, có thể nhận định:Mỹ sử dụng lực lượng dân chủ cấp tiến như một con bài để truyền bá tư tưởng “dân chủ” “đa nguyên” và xă hội Việt Nam từng bước “chuyển hoá giác ngộ” để lôi kéo các tầng lớp nhân dân đi theo cái gọi là “phong trào dân chủ” ở Việt Nam. Khi CIA t́m được “ngọn cờ” chính trị tại Việt Nam, th́ đây sẽ là ṇng cốt để chúng xây dựng “lực lượng đối lập” phục vụ ư đồ của Mỹ – và thời điểm đó chính là lúc bùng nổ đồng loạt các hoạt động gây rố loạn khủng hoảng toàn diện – với mưu đồ xoá bó ĐCS và chế độ XHCN ở Việt Nam.

4.4. Phương thức và hoạt động của lực lượng cấp tiến, phản động đa dạng, linh hoạt hơn, thay đổi rất nhanh để theo kịp t́nh h́nh, tính chất và hậu quả do chúng gây ra sẽ nghiêm trọng hơn.

Năm 2003 hoạt động chống phá của lực lượng cấp tiến hầu như “co lại: và cầm chừng để nghe ngóng sau khi Nguyễn Vũ B́nh, Phạm Quế Dương, Trần Khuê bị bắt. Có thể nói, “Phong trào dân chủ” đă bị những đ̣n đánh và bị thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, sang năm 2004 hoạt động của lực lượng này gia tăng trở lại, có thời cơ được dấy lên cao (khi xét xử Nguyễn Vũ B́nh, Phạm Quế Dương, Trần Khuê) chúng điều chỉnh cách thức, thủ đoạn chống phá. Từ chỗ công khai đấu tranh đối lập các “tổ chức dân chủ”, “hội chống tham nhũng”, trước đây, nay chuyển thành các hoạt động “ngầm” với các h́nh thức “đấu tranh” mềm dẻo, linh hoạt, không đấu lộ diện mà “núp bóng” và lợi dụng, kích động các lực lượng khác (thân nhân của những tên bị bắt giam, CCB lăo thành cách mạng) đứng ra đấu tranh, không sử dụng phương pháp biểu t́nh, lật đổ mà núp dưới các “phong trào chung chung” để giành, tăng cường viết bài và lôi kéo lực lượng CCB, lăo thành cách mạng … củng cố tán phát, phổ biến nhằm “cảm hoá, giác ngộ” quần chúng nhân dân để đấu tranh thay đổi chế độ, đặc biệt là phải làm cho ĐCS “tự diễn biến”.

Bọn cấp tiến tiếp tục củng cố và xây dựng lực lượng, kể cả lôi kéo các nhân vật đ̣i được thả tự do.

Đây là vấn đề được các nhân vật cấp tiến rất chú trọng trong giai đoạn từ nay sau. Điều này thể hiện rất rơ trong chủ trương xây dựng cho được “ngọn cờ” ngay trong nội bộ Đảng, Nhà nước là những người có nhiều công lao, có uy tín cao, có quan điểm “dân chủ” đồng thời phải xây dựng sâu rộng “phong trào dân chủ ở cơ sở dần dần đi vào hoạt động ổn định mang tính tổ chức, tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra giám sát, không được manh động, hời hợt) cũng như hoạt động cụ thể của chúng. Bởi thực chất lực lượng của chúng trong thời gian qua không phát triển được là bao, số lượng không nhiều, thực sự giảm đi do một số nhân vật “có máu mặt” bị bắt giữ hơn nữa những tên cộm cán của phong trào” Hoàng Minh Chính, Hồng Hà, Thanh Giang .. đều đă già và có những bất đồng. Nhận thấy thế và lực chưa cho phép h́nh thành tổ chức đối lập với ĐCS nên chúng vẫn đang phải t́m thế hơn pháp để đấu tranh, lôi kéo thêm lực lượng. Có nhiều dấu hiệu cho thấy cấp tiến ở Hải Pḥng, thành phố Hồ Chí Minh đă và đang tích cực triển khai chủ trương này.

4.6. Vấn đề đoàn két trong nội bộ bọn cấp tiến, phản động được chúng khắc phục để “kết hợp đấu tranh”.

Bọn cấp tiến phản động xét lại, cơ hội chính trị và bất măn sẽ dàn xếp các mâu thuẫn nội bộ, kết hợp với nhau đấu tranh và mở rộng liên kết với phản động ở nước ngoài với các thế lực thù địch. Năm 2003 mâu thuẫn trong các nhóm cấp tiến diễn ra rất gay gắt, đặc biệt là giữa Thanh Giang và Hoàng Minh Chính. Đây không phải là mâu thuẫn về đường lối bởi hai nhân vật này vẫn thống nhất mục đích đấu tranh là lên án Đảng, chống đối Nhà nước, Vấn đề là ở tính đố kỵ và sự bất đồng trong việc xác định biện pháp, cách thức đấu tranh của “phong trào dân chủ”. Đến nay, mâu thuẫn từng bước được hoà giải mặc dù chưa được giải quyết triệt để. Dưới tác động của Hồng Hà, Bùi Minh Quốc, Hoàng Minh Chính và Thanh GIang đă đồng ư gác lại mâu thuẫn hoăn để tập trung cho đấu tranh chung của “phong trào”, nhất là trong bảo vệ Phạm Quế Dương. hơn nữa, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc của các nhân vật thuộc nhóm “dân chủ” như Thanh Giang, Hồng Hà, Sơn Tùng với các nhân vật cốt cán trong lực lượng cấp tiến có thể thấy, gần đây các nhân vật “trung tâm” t́m được tiếng nói chung trong nhận định, đánh giá t́nh h́nh và chủ trương hoạt động chống phá dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tham nhũng.

4.7. Quyết tâm “lật án” tất cả các sự kiện trong Đảng từ sau năm 1954 đến nay như: “Nhân văn giai phẩm”. “Vụ án chống Đảng”, cải cách ruộng đất, các chính sách của Đảng và Nhà nước sau 1975..

Gần đây xuất hiện một số tác phẩm văn học phát tán có chú ư với nội dung lật án, phủ nhận công lao của Đảng trong lănh đạo cách mạng Việt Nam. Cuốn sách “Việt Nam và thế giới trong thế kỷ 20” của Nguyễn Khắc Huỳnh, cuốn “gặp nhà thơ Tố Hữu tại biệt thư 76 Phan Đ́nh Phùng” của Nhật Hoa Khanh … là những ví dụ Nhất Hoa Khanh đưa ra những “lời tâm sự” của đồng chí Tố Hữu ăn năn, hối lỗi về những việc làm của ḿnh trước đây, thực chất tác giả “mượn tay” một đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng để lật lại các vụ án Nhân văn – Giai phẩm, vụ án chống Đảng … nhằm phủ nhận những nghị quyết của Đảng trước đây, Đưa ra những tư liệu khó kiểm chúng để “bộc bạch” ư đồ bôi nhọ một số cán bộ cao cấp của Đảng hiện nay, gây nghi ngờ trong người đọc về những mâu thuẫn nội bộ Đảng. Bài viết “Những kỷ niệm về Bác Hồ” xuyên tạc sự thật cuộc đời của Bác luôn gặp bất hạnh, nội bộ Đảng đấu đá nhau, Trung quốc, Liên xô gây sức ép buộc Đảng phải tiến hành cải cách ruộng đất dẫn đến sai lầm .. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động viết bài tuyên truyền, kích động chống phá quân đội và Tổng cục II trước Đại hội X. Tất cả những vụ việc này nằm trong âm mưu của địch làm cho Đảng bị phân tán chú ư, lo thu xếp giải quyết các “vấn đề nội bộ”, mà không tập trung được vào hoạch định đường lối, xác định nhân sự, củng cố tổ chức, không làm tốt công tác chuẩn bị cho Đại hội X.

Như vậy các thế lực thù địch sẽ tập trung lực lượng, khả năng, kết hợp trong – ngoài để chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội một cách mạnh mẽ, quyết liệt vào thời điểm chuẩn bị Đại hội X nửa cuối năm 2005.

5. Một số nhận xét, kiến nghị.

5.1. Đây không phải là lần đầu tiên các thế lực thù địch tấn công vào Đảng, Nhà nước và quân đội mạnh như hiện nay. Những hoạt động này diễn ra thường xuyên liên tục từ hàng chục năm nay. Đặc biệt cao trào chống phá thường rộ lên trước mỗi kỳ chuẩn bị đại hội Đảng. Từ đại hội V đến nay, Đảng ta luôn tỉnh táo, sáng suốt vô hiệu hoá âm mưu và thủ đoạn chống phá của c ác thế lực thù địch và thực hiện thành công đại hội, đưa đất nước đổi mới, vững vàng đi lên theo định hướng XHCN.

Hiện nay, trong giai đoạn chuẩn bị đại hội X địch tổ chức chiến dịch chống phá sớm hơn so với mọi lần, với sự ủng hộ mạnh hơn của Mỹ và các thế lực thù địch bên ngoài, có sự phối hợp bài bản hơn, chặt chẽ hơn giữa lực lượng trong và ngoài nước. Địch chủ trương đi vào nội bộ và t́m các vấn đề nội bộ để làm xuất phát điểm cho chiến dịch chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội.

5.2. Về tương quan lực lượng ta - địch các thế lực thù địch tích cực sử dụng hơn t́nh báo gián điệp, các phẩn tử phản động, cấp tiến, xét lại chống Đảng, bất măn … trong và ngoài nước chống phá trên c ác vấn đề lớn như Tây nguyên, tôn giáo, nhân quyền…và kích động chống phá nội bộ ta. Song các phần tử nguy hiểm này cũng chỉ là một số tên nhất định, chúng chưa có quần chúng, chưa có lực lượng. Con số không đến 100 tên. Nhưng nhờ công nghệ thông tin chúng có thể mở các chiến dịch tuyên truyền, kích động rầm rộ, thổi phồng về qui mô, tính chất và lực lượng, làm cho nhiều người nghĩ rằng chúng quá mạnh. Thực chất không phải như vậy.

Với lực lượng ấy địch chờ cái ǵ ? chúng không thể mơ tưởng tới một cuộc “cách mạng” lật đổ chế độ, Bởi vậy chúng rất mong chờ sự xuất hiện những mâu thuẫn nội bộ và sai lầm trong giải quyết các vấn đề nội bộ. Bùi Tín cũng như Nguyễn Gia Kiểng nói, cái điều chúng mong chờ nhất là kích động được sự rối loạn nội bộ, thanh trùng lẫn nhau, đó chính là thời cơ. Bài học Liên xô cho thấy rằng, với một nhóm rất nhỏ các phần tử cấp tiến phản động và xét lại trong ĐCS Liên xô, rất nhỏ, có thể đếm chỉ được vài chục người, nhưng mà chúng ta đă xoá bỏ được Liên xô. Chính là từ vấn đề trong nội bộ.

5.3. Về phía ta, trong những năm qua đất nước có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thế và lực trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Kinh tế, văn hoá xă hội phát triển, đặc biệt là nền tảng chính trị của ta cơ bản được giữ vững qua những thăng trầm, những biến cố những phức tạp của t́nh h́nh. Đảng ta là một Đảng mạnh, thống nhất ư chí và hành động, đặc biệt có lực lượng vũ trang trung thành tuyệt đối, luôn sẵn sàng bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ XHCN và Nhân dân. Bởi vậy, tương quan lực lượng ta - địch thực sự là một trời, một vực.

Chính v́ vậy, để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân chuẩn bị tốt cho Đại hội Đảng lần thứ X, nếu chúng ta giữ vững ổn định nội bộ, không để các thế lực thù địch kích động, gây chia rẽ nội bộ, đặc biệt trong quá tŕnh Đại hội X, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đặc biệt là tuyệt đối không để các thế lực bên ngoài (địch, cấp tiến, xét lại, bất măn, những người không hiểu t́nh h́nh …) chi phối hoặc ngầm tác động.

Đảng, Nhà nước nắm chắc lực lượng quốc pḥng – An ninh, quản lư chặt chẽ t́nh h́nh mọi mặt, nắm chắc t́nh h́nh trong và ngoài nước để chủ động đối phó sớm với những biến động. Có các biện pháp phù hợp vừa khẩn trương vừa có tính dài hạn để cơ bản giải quyết các điểm nóng như Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc. Giải quyết tốt mối quan hệ quốc tế theo 2 trục cơ bản là Việt Nam – Lào – Campuchia là quan hệ gắn bó, sống chết có nhau, và trục quan hệ Mỹ – Việt – Trung. Giữ vững ổn định đời sống nhân dân, phát triển kinh tế xă hội./.

Bộ quốc pḥng